Hơn 60 năm về trước, bà là cô thôn nữ 17 tuổi xinh đẹp nết na của làng, biết bao chàng trai đã theo đuổi, biết bao gia đình mong muốn có bà về làm dâu. Ở độ tuổi đẹp nhất của người con gái, bà về làm vợ ông, làm dâu vào một ngày nắng nhẹ. Bà nhớ mãi cái cảm giác e ấp khi đi bên ông.

 

Cuộc sống của ông bà trôi qua như bao cặp vợ chồng ở các làng quê. Bà lần lượt sinh hạ hai con, gái đầu lòng, trai thứ hai. Khi giặc Pháp xâm lược, bà cùng các con đưa tiễn ông lên đường làm nhiệm vụ. Vợ chồng bịn rịn chia tay hẹn ngày ông trở về. Nhưng ngày đó mãi mãi không bao giờ đến. Khi nghe tin ông hy sinh bà chết lặng, thương hai con còn nhỏ nên bà quyết định ở vậy thờ chồng nuôi con, mặc dù có không ít người theo đuổi muốn xây dựng với bà.

 

Cuộc sống của ba mẹ con bình yên qua ngày. Năm bà 30 tuổi, tuy đã có hai con nhưng bà vẫn còn trẻ, đang ở độ tuổi mặn mà của người phụ nữ. Nghịch cảnh đã đổ ập lên đầu bà một lần nữa. Bà nhớ mãi đó là một đêm mùa hè oi nồng khó chịu, không trăng, không sao, gió chỉ có màn đêm bao phủ. Bà nhẹ nhàng phe phẩy quạt cho hai con ngủ và thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng một bàn tay thô ráp, bà rùng mình mở mắt không phải bàn tay của con trai quờ mẹ. Bà chẳng kịp nói gì và điều gì đến đã đến. Bà thấy tủi hổ với chồng, với con, với bản thân mình. Lặng bước một mình bà lững thững ra bờ ao trước nhà, bước chân vô định đưa bà xuống làn nước. Bà muốn ra đi theo chồng ngay lúc này nhưng rồi nghe thấy tiếng gọi thẳng thốt của đứa con đang tìm mẹ: “Mẹ ơi, mẹ đâu rồi?”. Tình mẫu tử trỗi dậy đã ngăn bà trẫm mình xuống dòng nước. Nước mắt của bà cứ tuôn rơi, bà khóc, khóc như lần mất chồng. Nỗi đau này chỉ có mình bà gánh, bà không thể san sẻ cho ai được. Sau đêm đó, bà thấy khác lạ, linh cảm của người mẹ mách bảo cho biết bà đã mang thai. Một lần nữa bà muốn rời bỏ cuộc sống này nhưng các con bà, bào thai bà đang mang không có tội gì. Bà lại gồng mình để sống. Bụng của bà mỗi ngày một to lên và không thể giấu được mọi người trong gia đình chồng cũng như hàng xóm, bà bị xua đuổi nhưng bà nhất quyết không đi. Ngày bà sinh trời mưa tầm tã, đứa bé khóc ngằn ngặt mà chẳng có ai dỗ dành. Bà ôm con vào lòng, nước mắt hòa lẫn nước mưa.

 

Khoảng hai, ba năm sau, bố chồng bà cùng vợ và các con chuyển sang sinh sống ở mảnh đất khác cùng thôn. Bà cùng ba con tiếp tục sống trên mảnh đất đó. Bà chăm chỉ làm lụng vừa làm mẹ vừa làm cha nuôi dạy ba con. Con gái và con trai cả đều thoát ly đi công tác. Ngày bố chồng bà hấp hối, bốn mẹ con bà đều có mặt. Bà nhớ ánh mắt của bố chồng cứ nhìn bà như mong muốn được tha thứ, chỉ có bà biết và hiểu điều đó.

 

Các con bà lớn lên xây dựng gia đình và có chỗ ở riêng. Bà ở với cậu út trên thửa đất tổ tiên nhà chồng, khi giỗ ngày tế bà vẫn làm tròn bổn phận. Ở cái tuổi xưa nay hiếm, chẳng biết sống chết lúc nào bà quyết định chia đều thửa đất cha ông cho các con, nhưng chị con gái không lấy nên bà chia đôi cho hai con trai, mỗi người một nửa mặc dù con lớn đã có đất riêng. Cậu út đồng ý theo sự phân chia của mẹ.

 

Những tưởng đến cuối đời bà được hưởng niềm hạnh phúc bên con cháu nhưng một ngày kia cậu cả làm đơn kiện bà và em trai đòi lại thửa đất của tổ tiên. Bà lại chết lặng thêm một lần nữa. Bà thấy đau đớn, nỗi đau đã thành sẹo nay lại như bị ai cào cấu. Biết bao lần hòa giải, bà muốn giữ tình mẹ con, khúc ruột trên khúc ruột dưới của mình phân chia cho anh cả 2/3, em út 1/3 thửa đất; song anh con trai cả nhất định không đồng ý nhất quyết yêu cầu Tòa giải quyết.

 

Tuổi già sức kiệt, nước mắt cũng kiệt theo, bà khóc không ra nước mắt, ở tuổi gần đất xa trời không muốn phơi bày sự thật bao năm tưởng sẽ theo bà xuống suối vàng. Cả đời cam chịu mang tiếng chửa hoang, con trai thứ hai mang tiếng con hoang mấy chục năm không danh phận. Nếu không nói ra sự thật con trai thứ hai của bà sẽ ra sao khi bà khuất núi, bà biết nói thế nào khi đi gặp tổ tiên? Bà day dứt giằng xé có nên nói ra sự thật không. Cuộc đời bà không còn nhiều nữa có lẽ bà nên trả lại danh phận cho con trai mà lẽ ra đã rất lâu rồi anh phải được hưởng.

         

Ngày mai tại phiên tòa dù có thế nào bà cũng sẽ nói ra sự thật …!

Nguyễn Nhàn, Nguyễn Trang - Phòng 9 VKSND tỉnh Bắc Ninh