Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác giải quyết án dân sự, đồng thời mở rộng quyền năng cho Viện kiểm sát, tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát thực hiện tốt nhiệm vụ. Một trong những đổi mới quan trọng đó là quy định về bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm. Qua đó, khi tham gia phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên ngoài việc phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng thì còn phải phát biểu cả quan điểm giải quyết về nội dung vụ án, để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định trước khi tuyên án. Đây là bước cải tiến mới cũng như thách thức đặt ra đối với cán bộ, Kiểm sát viên khi thực hiện công tác này.

Trước yêu cầu mới đặt ra, đồng thời thực hiện Kế hoạch số 55/KH-VKS ngày 11/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh về công tác kiểm sát năm 2019, thời gian qua, Viện KSND thành phố Bắc Ninh đã chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự. Bên cạnh việc tổ chức quán triệt chỉ thị, quy định mới của pháp luật, trong các buổi tham dự các phiên tòa rút kinh nghiệm, Lãnh đạo đơn vị cũng đã chỉ rõ những thiếu sót trong các bài phát biểu để các cán bộ, Kiểm sát viên học tập trau dồi. Trước đây, việc thực hiện xây dựng Bài phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm của đơn vị chất lượng còn chưa cao, quá trình đầu tư, nghiên cứu hồ sơ còn chưa kỹ, nên nội dung bài phát biểu chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật, chưa thể hiện được bản lĩnh, tác phong của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự.

Với việc xác định “Nâng cao chất lượng Bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm” là khâu đột phá trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự năm 2019 và là một trong những yêu cầu cấp thiết để hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác đã đề ra. Do đó, Viện kiểm sát thành phố Bắc Ninh xây dựng chuyên đề: “Nâng cao chất lượng bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm” nhằm trao đổi đến các đồng nghiệp một số kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, thao tác nghiệp vụ, soạn thảo, trình bày, kiểm tra bài phát biểu trước, trong và sau phiên tòa dân sự sơ thẩm.

I. Quy định của pháp luật về bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự là sự kết tinh của quá trình nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên, là kết quả hoạt động của công tác kiểm sát của Kiểm sát viên, thể hiện vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự. Do đó, Lãnh đạo đơn vị đã rất chú trọng trong việc phổ biến các quy định pháp luật về bài phát biểu thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016, cụ thể:

1.1. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Có 03 điều luật quy định cụ thể về  phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự, trong đó đã mở rộng phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát tại phiên tòa dân sự sơ thẩm (Điều 21, Điều 58; Điều 262).

Theo đó, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật (Điều 21). Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên quy định cụ thể tại Điều 58 cũng cần được quán triệt sâu rộng đến các cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị.

Ngoài ra, tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  quy định: "Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, KSV phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, KSV phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án".

Như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã có những điểm mới quy định về phạm vi và giới hạn tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm so với Bộ luật tố tụng dân sự trước đây. Theo quy định nêu trên khi kiểm sát việc chấp hành pháp luật về tố tụng, ngoài việc kiểm sát việc chấp hành pháp luật đối với các chủ thể là Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên còn phải kiểm sát việc chấp hành pháp luật của cả Thư ký Tòa án như: việc chấp hành pháp luật về thủ tục phiên tòa, việc ghi chép diễn biến phiên tòa. Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khi tham gia phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên còn phải phát biểu quan điểm giải quyết về nội dung vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định trước khi tuyên án.

1.2. Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 28 quy định rõ những nội dung cụ thể về bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa những vấn đề như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

+ Về việc giải quyết vụ án như sau: Phân tích, đánh giá, nhận định về nội dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án; đánh giá, nhận định về tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; nêu rõ căn cứ pháp luật hoặc các căn cứ quy định tại Điều 45 BLTTDS được áp dụng để giải quyết vụ án; nêu rõ quan điểm về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, đề nghị của nguyên đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đặc biệt, tại Viện kiểm sát thành phố Bắc Ninh, văn bản phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên, đồng thời phải được Lãnh đạo phụ trách duyệt trước khi tham gia phiên tòa. Điều này thể hiện, đơn vị rất chú trọng đến vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự thông qua những thao tác nghiệp vụ, nhất là bài phát biểu của Kiểm sát viên thể hiện tại phiên tòa sơ thẩm.

II. Thực trạng chất lượng bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

2.1. Thực trạng khi chưa xác định bài phát biểu là công tác trọng tâm đột phá

Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 đến hết tháng 11/2018, Viện kiểm sát thành phố Bắc Ninh đã kiểm sát xét xử sơ thẩm 173 vụ. Số vụ có VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm là 173 vụ. Tại các phiên tòa, Kiểm sát viên đã thể hiện được vị trí, vai trò của ngành trong kiểm sát giải quyết án dân sự. Các Kiểm sát viên làm khâu công tác này luôn có tinh thần trách nhiệm với nghề, không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, cập nhật văn bản pháp luật mới để nâng cao trình độ nghiệp vụ. Điều này thể hiện rõ qua các bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Nhiều bài phát biểu của Kiểm sát viên được đầu tư, nghiên cứu kỹ lưỡng, đạt chất lượng tốt. Việc đánh giá, phân tích, lập luận có tính thuyết phục cao. Từ đó, kiểm sát chặt chẽ quá trình giải quyết của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử; kịp thời phát hiện được những vi phạm tố tụng của Tòa án; thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKS; đề xuất quan điểm giải quyết vụ án phù hợp, có căn cứ, được Tòa án chấp nhận. Kết quả hạn chế được số án bị cấp phúc thẩm hủy có lỗi của Kiểm sát viên.

Tuy nhiên, theo nhận định chủ quan, việc xây dựng Bài phát biểu của Kiểm sát viên ở đơn vị tại phiên tòa sơ thẩm chất lượng còn chưa cao. Bài phát biểu thường rập khuôn theo mẫu, đơn điệu, hình thức, chưa có tính sáng tạo, chủ động, chưa thể hiện được sự đầu tư của Kiểm sát viên khi tham gia giải quyết vụ án, đặc biệt là đối với những vụ án phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Vì vậy, việc tạo được niềm tin cho Hội đồng xét xử và đương sự tham gia phiên tòa còn hạn chế.

 

Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

 

Qua đó, một số lỗi thường gặp trong các bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm như sau:

-  Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng thường là liệt kê việc chấp hành pháp luật đúng hay không đúng quy định tại các điều luật của Bộ luật tố tụng, mà không nêu được việc thực hiện đó bao gồm những nội dung gì; việc thực hiện đó đúng và không đúng như thế nào.

- Phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng thường chung chung theo bản mẫu mà không xem xét rõ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của từng người nên dẫn đến việc nhận xét chỉ mang tính hình thức, có nhiều lúc không  đúng với thực tiễn.

- Không kịp thời chú ý bổ sung những nội dung, tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa vào trong bài phát biểu nên nhiều bài phát biểu không phản ánh đúng, đầy đủ diễn biến phiên tòa làm cho chất lượng bài phát biểu không đạt yêu cầu.

- Bài phát biểu KSV mới chỉ dừng lại ở việc nhận xét việc chấp hành pháp luật tố tụng của các chủ thể tố tụng, chưa đánh giá được việc thu thập chứng cứ vụ án có đúng không, có đầy đủ để làm căn cứ giải quyết vụ án hay không.

- Đề xuất hướng giải quyết vụ án mới chỉ nêu chung chung, không phân tích, lập luận, đánh giá chứng cứ, chưa nêu được mối liên hệ giữa chứng cứ với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự, chưa nêu căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án.

2. Nguyên nhân:

- Thành phố Bắc Ninh trong những năm gần đây với bước chuyển mình mạnh mẽ về phát triển kinh tế vượt trội, dẫn đến các tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều và có diễn biến phức tạp. Các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình đều tăng mạnh so với những năm trước đây, cụ thể: năm 2017 thụ lý giải quyết 605 vụ, năm 2018 thụ lý 622 vụ (tăng 17 vụ so với năm 2017), trong quý I năm 2019 thụ lý 130 vụ (tăng 43 vụ so với cùng kỳ năm 2018). Trong khi khối lượng công việc giải quyết án dân sự của đơn vị rất lớn, số lượng cán bộ, Kiểm sát viên phụ trách khâu dân sự không nhiều và phải kiêm nhiệm nhiều khâu công tác khác dẫn đến còn chưa đầu tư nhiều về thời gian nghiên cứu hồ sơ cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan.

- Chất lượng Kiểm sát viên tại đơn vị không đồng đều, có một số Kiểm sát viên còn yếu hoặc Kiểm sát viên mới bổ nhiệm còn chưa có kinh nghiệm.

- Năng lực và kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng soạn thảo, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa còn hạn chế, đặc biệt kỹ năng phát hiện vi phạm của Tòa án về nội dung.

- Một số Kiểm sát viên chưa thường xuyên cập nhật văn bản, quy định pháp luật mới, còn chưa đầu tư nghiên cứu kỹ hồ sơ, không bám sát tiến trình tố tụng của Tòa án; coi trọng phát biểu quan điểm về nội dung mà bỏ qua việc xem xét về tố tụng nên bài phát biểu đạt chất lượng chưa cao.

III. Các yêu cầu và kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, soạn thảo Bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Bài phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát thực hiện ở phiên tòa, phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự là một văn bản tố tụng quan trọng thể hiện thẩm quyền của Viện kiểm sát khi tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự một cách trực tiếp, là phướng thức kiểm sát có ý nghĩa góp phần bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát. Nhận thức được tầm quan trọng của bài phát biểu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh ngay từ đầu năm đã xác định đây là khâu trọng tâm đột phá và thường xuyên quán triệt, xây dựng chuyên đề về kỹ năng soạn thảo bài phát biểu để cho các cán bộ, Kiểm sát viên học tập. Theo đó, quan điểm của đơn vị thì bài phát biểu của KSV cần phải có bố cục và nội dung sau:

1. Về hình thức, bố cục: Tuân thủ theo biểu mẫu số 24, 25 theo Quyết định số 204/QĐ-VKSTC ngày 01/06/2017 của Viện KSND tối cao về việc ban hành mẫu văn bản tố tụng, nghiệp vụ tạm thời trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp.

2.  Về nội dung: Gồm 3 phần

2.1. Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng

Yêu cầu Kiểm sát viên phải đánh giá được toàn bộ quá trình chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm. Nhận xét về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm, theo quy định của BLTTDS. Nếu phát hiện vi phạm KSV thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm. Các nội dung cần đề cập trong phần tố tụng là:

- Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán: Việc chấp hành các quy định của BLTTDS quy định tại Điều 48 BLTTDS.

+ Về thụ lý đơn khởi kiện: Đơn khởi kiện đã đủ điều kiện khởi kiện chưa. Các chứng cứ theo quy định từng trường hợp kèm theo đơn khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án có đương sự nào thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện không? Thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án đã đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS chưa?

+ Thời hiệu giải quyết vụ việc dân sự: Nhận xét yêu cầu của đương sự thuộc trường hợp còn hay đã hết thời hiệu khởi kiện.

+ Về thẩm quyền thụ lý: Kiểm sát viên nhận xét thẩm quyền thụ lý vụ án có đúng qui định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 của BLTTDS hay không? Trong đó, cần phân tích rõ cơ sở để chứng minh là thuộc thẩm quyền của Tòa án thụ lý.

+ Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Kiểm sát viên cần phân tích căn cứ để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vấn đề gì? Quan hệ pháp luật tranh chấp phát sinh theo yêu cầu của nguyên đơn là quan hệ gì? Tòa án xác định đúng bản chất quan hệ tranh chấp chưa?

+ Về xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng: Ngoài xác định tư cách pháp lý theo đơn khởi kiện, trên cơ sở những chứng cứ, tài liệu do các bên cung cấp, cần xác định đúng và đầy đủ tư cách những người tham gia tố tụng; việc giải quyết tranh chấp này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những ai; Bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không. Tòa án đã yêu cầu đương sự nộp đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập, nộp tạm ứng án phí đối với những yêu cầu này theo quy định của pháp luật chưa….

+ Về thu thập chứng cứ: Các đương sự đã xuất trình những tài liệu, chứng cứ gì, Tòa án thu thập những chứng cứ gì. Quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án có đúng thủ tục luật định không. Tính có căn cứ và hợp pháp của những tài liệu, chứng cứ đó.

+ Về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, có đúng quy định tại các Điều 133,134, 135, 136, 137, 138 BL TTDS hay không. Nếu có vi phạm phải có công văn yêu cầu Tòa án khắc phục.

+ Về thủ tục hòa giải và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ: Thực hiện theo đúng quy định tại các Điều từ 205 đến Điều 211 BLTTDS về việc hòa giải.

+ Về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử: Vụ án thụ lý từ lúc nào, đến thời điểm nào thì Tòa án ra Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đúng với quy định tại các Điều 203, 220 BLTTDS không.

+ Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu; việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng đúng hay không đúng theo quy định của Điều 220 BLTTDS.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án:

Nêu việc chấp hành pháp luật về việc chấp hành nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử: Thành phần của Hội đồng xét xử, việc đảm bảo nguyên tắc xét xử tập thể, xét xử kịp thời, công bằng, công khai; đảm bảo sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự; thực hiện đúng nội quy và trình tự, thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký Tòa án đúng quy định tại Điều 51, Điều 237 BLTTDS năm 2015: việc chấp hành pháp luật về thủ tục phiên tòa, việc ghi chép diễn biến phiên tòa...

- Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác.

2.2.Về việc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án

Phần quan điểm của Viện kiểm sát là phần đặc biệt quan trọng của văn bản tố tụng này, thể hiện chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự từ khi nghiên cứu hồ sơ đến khi vụ việc được giải quyết tại phiên tòa, phiên họp.

Yêu cầu đối với nội dung này là phải nắm chắc chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa. Lập luận phải chặt chẽ, nội dung phải thống nhất với việc phát biểu tại phần chấp hành pháp luật tố tụng. Việc đề xuất giải quyết vụ án phải có căn cứ, đúng pháp luật, đủ sức thuyết phục Hội đồng xét xử và những người tham dự phiên tòa.

Phần nội dung phải trình bày được tóm tắt nội dung vụ án, trong đó nêu ngắn gọn nhưng đầy đủ những vấn đề như: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vấn đề gì; quan hệ pháp luật từ đó phát sinh tranh chấp là quan hệ gì; ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các tình tiết khác liên quan đến tranh chấp. Bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay không; quá trình giải quyết, đương sự có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập không. Xác định căn cứ để giải quyết tranh chấp là các bên xuất trình được những tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của các bên; xác định tính có căn cứ và hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do các đương sự cung cấp, do Thẩm phán thu thập; đánh giá tính đầy đủ của chứng cứ... Việc xem xét, đánh giá chứng cứ không chỉ dựa trên các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án mà còn căn cứ lời khai của các đương sự; ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; trình bày của người tham gia tố tụng khác và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, KSV phải đánh giá, lập luận chặt chẽ, thống nhất, đưa ra quan điểm cụ thể: Có hay không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; áp dụng quy định nào của pháp luật nội dung để giải quyết vụ án để đề nghị Hội đồng xét xử về hướng giải quyết vụ án.

2.3. Những yêu cầu kiến nghị để khắc phục vi phạm ở giai đoạn tố tụng

Đối với những trường hợp Tòa án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng cần ghi nhận trong bài phát biểu; với những trường hợp có vi phạm thủ tục tố tụng thì cần tổng hợp những vi phạm này, nếu xét thấy là vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các đương sự thì sau khi xét xử, Kiểm sát viên phải báo cáo đề xuất kháng nghị phúc thẩm; trường hợp xác định có vi phạm nhưng không ảnh hưởng nhiều đến các đương sự thì xem xét tổng hợp kiến nghị chung.

IV. Giải pháp nâng cao chất lượng bài phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

1. Đối với công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và công tác phối hợp

- Lãnh đạo đơn vị cần quán triệt sâu sắc chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần mới của Bộ luật tố tụng dân sự đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên. Nâng cao nhận thức đúng và đầy đủ quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị là những quyền năng cơ bản và quan trọng nhất của VKS trong tố tụng dân sự để thường xuyên rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện các quyền này, bảo đảm có chất lượng, đúng pháp luật và hiệu quả cao nhất.

- Thực hiện các giải pháp mang tính thực tiễn, đi sâu vào từng kỹ năng nghiệp vụ cụ thể để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát việc giải quyết án dân sự trước, trong và sau phiên tòa sơ thẩm.

- Lãnh đạo Viện KSND cấp huyện cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá, quan tâm và chỉ đạo sát sao công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; có kế hoạch tăng cường biên chế, điều động bổ nhiệm Kiểm sát viên tương xứng với tính chất và mức độ công việc cụ thể của từng đơn vị. Trong đó chú trọng tăng cường đội ngũ Kiểm sát viên có kinh nghiệm cùng với việc quan tâm bồi dưỡng, đào tạo những Kiểm sát viên trẻ tuổi có năng lực.

- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tiến độ thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên được phân công. Bài phát biểu của Kiểm sát viên phải được Lãnh đạo Viện KSND duyệt trước khi tham gia phiên tòa. Định kỳ quý, năm kiểm tra chất lượng xây dựng hồ sơ, chất lượng báo cáo đề xuất và bài phát biểu của Kiểm sát viên.

- Viện kiểm sát cần phối hợp tốt với Tòa án cùng cấp tăng cường tổ chức nhiều phiên tòa dân sự sơ thẩm rút kinh nghiệm; sau phiên tòa phải tổ chức họp để nhận xét, đánh giá những ưu điểm, thiếu sót tồn tại của Kiểm sát viên. Cải tiến nội dung cuộc họp nhận xét, đánh giá rút kinh nghiệm của KSV sau phiên tòa. Ngoài việc nhận xét hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đường lối giải quyết vụ án, cần đánh giá nhận xét hoạt động của Kiểm sát viên trước phiên tòa, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng phát hiện vi phạm, việc thực hiền quyền yêu cầu đối với Tòa án…

- Viện KSND cấp huyện cần phải thường xuyên trao đổi nghiệp vụ, đối những vụ án phức tạp thì chủ động xin ý kiến thỉnh thị để có hướng giải quyết đúng quy định của pháp luật.

2. Đối với Kiểm sát viên cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản như sau

- Kiểm sát viên phải có ý thức tự đào tạo, tự học hỏi, nắm vững các nguyên tắc, các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan một cách chính xác.

- Nâng cao kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng phân tích, lập luận, đánh giá, tổng hợp. Chủ động trước những tình huống mới phát sinh trong quá trình xét xử.

- Nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ. Nghiên cứu kỹ, theo sát từng tiến trình tố tụng của Tòa án. Phải đọc hết toàn bộ hồ sơ vụ án, không bỏ qua bất kỳ giai đoạn tố tụng nào kể từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện cho đến khi xét xử, những thay đổi trong quá trình tố tụng. Đối chiếu với các quy định của pháp luật để xem xét việc Tòa án có hay không có vi phạm để kịp thời yêu cầu bổ sung, khắc phục. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn phải đánh giá tính chất của vụ án để dự kiến trước các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa và đường lối xử lý; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu cần thiết sử dụng trong quá trình tác nghiệp tại phiên tòa, nhất là Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo đảm luôn giữ được sự chủ động trong xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phải tập trung lắng nghe toàn bộ nội dung hỏi và trả lời, diễn biến của phiên tòa để ghi chép đầy đủ vào bút ký phiên tòa; đối chiếu so sánh giữa những tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ và thực tế diễn biến tại phiên tòa để đánh giá diễn biến tại phiên tòa có thay đổi nội dung vụ án hay không. Chủ động xử lý những tình huống mới phát sinh, để đưa ra quan điểm cho phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và quy định của pháp luật. Bổ sung những tình huống phát sinh tại phiên tòa vào trong dự thảo bài phát biểu, bảo đảm bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm là một văn bản pháp lý thể hiện quan điểm toàn diện, đầy đủ của Viện KSND về việc giải quyết vụ án.

- Kiểm sát viên cần chủ động tham gia hỏi tại phiên tòa. Nội dung hỏi cần tập trung vào các vấn đề liên quan đến tố tụng và nội dung vụ án để phục vụ cho bài phát biểu cũng như phục vụ cho việc xem xét kiến nghị, kháng nghị sau phiên tòa.

- Sau khi kết thúc phiên tòa Kiểm sát viên phải hoàn chỉnh bài phát biểu đã dự thảo cho phù hợp với diễn biễn tại phiên tòa, ký tên, có Lãnh đạo Viện duyệt. Kết thúc phiên tòa KSV phải báo cáo kết quả xét xử cho Lãnh đạo Viện để có biện pháp xử lý tiếp theo.

- Sau khi xét xử, kiểm sát chặt chẽ bản án của Tòa án. Đối chiếu với bài phát biểu để phát hiện được những điểm khác nhau giữa Bản án và Bài phát biểu. Những cơ sở, căn cứ để Tòa án nhận định ra Bản án có phù hợp với các chứng cứ đã có trong hồ sơ không, từ đó kịp thời có kiến nghị hoặc kháng nghị. 

Bài phát biểu Kiểm sát viên là một văn bản pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự, thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát trong toàn bộ quá trình xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa, Bài phát biểu Kiểm sát viên là một công cụ quan trọng để Viện kiểm sát thể hiện quan điểm về toàn bộ việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người gia tố tụng. Ngoài ra, còn thể hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát đối với những vi phạm của Tòa án, đảm bảo việc ra bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ và đúng pháp luật. Thông qua bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, khẳng định được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Bài phát biểu là nguồn tài liệu quan trọng để Hội đồng xét xử tham khảo, xem xét ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật. Do vậy, cần phải hiểu và thực hiện đúng quy định về bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát và vị thế của Viện kiểm sát tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.

Nhận thức được tầm quan trọng của bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự, ngay từ đầu năm, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã xác định đây là khâu trọng tâm đột phá trong giải quyết vụ việc dân sự và bước đầu đạt được những hiệu quả nhất định. Với tinh thần quán triệt tất cả các bài phát biểu của Kiểm sát viên phải được Lãnh đạo Viện phê duyệt là bước cải tiến mới, giúp hoạch định lại nhận thức và mài dũa kỹ năng của Kiểm sát viên khi soạn thảo bài phát biểu trước khi tham gia phiên tòa. Cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã thực hiện nghiêm túc, phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại yếu kém, nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng phát hiện vi phạm, kỹ năng thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, các kỹ năng soạn thảo bài phát biểu của Kiểm sát viên, để chất lượng bài phát biểu của Kiểm sát ngày được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay./.


Nguyễn Thị Thúy - Viện KSND thành phố Bắc Ninh