Luật hôn nhân và gia đình được Quốc hội ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 (gọi tắt là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Bên cạnh những quy định có tính kế thừa của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì còn có những quy định mới. Một trong những quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không có điều luật nào quy định về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con. Theo đó Tòa án là cơ quan có thẩm quyền để xác định cha, mẹ, con. Trường hợp có tranh chấp thì Tòa án thụ lý giải quyết theo vụ án xác định cha, mẹ, con, còn không có tranh chấp thì Tòa án thụ lý theo việc xác định cha, mẹ, con.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con tại Điều 101 như sau:

“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này…”

Theo nội dung điều luật trên, Tòa án không phải là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con. Tòa án chỉ có thẩm quyền thụ lý giải quyết xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết hoặc trường hợp người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết. Ngoài các trường hợp nêu trên thì thẩm quyền xác định cha, mẹ, con là của cơ quan đăng ký hộ tịch. Bên cạnh việc quy định về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con trong Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì thẩm quyền này còn được quy định cụ thể trong Luật hộ tịch được Quốc hội ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Theo Luật hộ tịch năm 2014 tại Điều 24 quy định về thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Việc xác định cha, mẹ, con còn sống có tranh chấp hay không có tranh chấp để từ đó xác định thẩm quyền của Tòa án hay cơ quan hộ tịch trong thực tế lúc ban đầu là khó khăn. Bởi lẽ, khi người cha hay người mẹ, người con yêu cầu xác định con, cha, mẹ thì chưa thể biết những người này có đồng ý hay không đồng ý, có tranh chấp hay không có tranh chấp từ đó làm thủ tục gửi Tòa án hay Ủy ban nhân dân xã. Nên khi muốn xác định cha, mẹ, con thì người dân thường gửi yêu cầu đến Tòa án nơi cư trú để yêu cầu. Trên cơ sở đơn của người yêu cầu, Tòa án thụ lý vụ án xác định cha, mẹ, con và làm các thủ tục theo tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nếu thấy người yêu cầu xác định cha, mẹ, con còn sống mà các bên không có tranh chấp thì Tòa án phải đình chỉ vụ án theo điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự : “g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý”  và thuộc điểm đ khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự “đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”. Sau đó hướng dẫn đương sự đến cơ quan hộ tịch (UBND xã) thực hiện thẩm quyền.

Còn trong mọi trường hợp xác định là cha, mẹ, con đã chết hoặc người thân thích của người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết thì dù có tranh chấp hay không có tranh chấp thì đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Khi kiểm sát giải quyết đối với vụ án hoặc việc xác định cha, mẹ, con của Tòa án, Kiểm sát viên cần chú ý đến thẩm quyền của Tòa án từ đó kiểm sát việc thụ lý và tham gia phiên tòa, phiên họp đưa ra quan điểm giải quyết đảm bảo có căn cứ.

Một việc dân sự mà Tòa án thụ lý xác định cha cho con nhưng không đúng thẩm quyền giải quyết, cụ thể:

Chị Đoàn Thị M kết hôn với anh Nguyễn Văn Q vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BS, huyện VY, tỉnh BG. Chị M và anh Q ly thân từ năm 2016. Trong thời gian chị M ly thân có quan hệ tình cảm với anh Khương Quang T và có một người con chung là cháu Khương Mạnh Tr, sinh ngày 14/11/2019, giấy chứng sinh số 05, quyển số 17 tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Anh T có yêu cầu Bệnh viện Đa khoa Medlatec Công ty TNHH Công nghệ và xét nghiệm Y học làm xét nghiệm phân tích ADN huyết thống. Kết quả xét nghiệm anh Khương Quang T và cháu Khương Quang Tr có quan hệ huyết thống cha con. Trên cơ sở kết quả xét nghiệm, anh Khương Quang T đã làm đơn đến Tòa án huyện Y đề nghị xác định anh là bố cháu Khương Quang Tr. Tòa án huyện Y đã thụ lý vụ án xác định cha cho con. Quá trình giải quyết vụ án, qua lấy lời khai chị M và anh Q đều xác nhận anh T là bố cháu Tr, anh Q không thắc mắc gì và không đề nghị lấy mẫu giám định quan hệ huyết thống giữa anh Q và cháu Tr. Chị M và anh Q nhất trí yêu cầu của anh T. Tòa án huyện Y đã trưng cầu giám định ADN tại Viện công nghệ DNA, theo kết luận xác định cháu Khương Quang T có quan hệ huyết thống cha – con với anh Khương Mạnh Tr với độ tin cậy 99,9999%. Tòa án huyện Y xác định do không có tranh chấp nên chuyển từ vụ án sang việc dân sự yêu cầu xác định cha cho con.

Nhận thấy, việc Tòa án huyện Y thụ lý vụ án xác định cha cho con là đúng, tuy nhiên khi thấy các đương sự không tranh chấp thì Tòa án huyện Y phải đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 và thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Hướng dẫn anh T gửi kèm theo các tài liệu đến UBND xã nơi cháu Tr hoặc anh T đang cư trú để làm thủ tục xác nhận cha cho con mới đảm bảo đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật hiện hành.

Nguyễn Thị Thu Trang - Phòng 9, Viện KSND tỉnh Bắc Ninh