Tại Trung Quốc, Viện kiểm sát có nhiệm vụ trực tiếp điều tra các tội phạm tham nhũng, chủ yếu là điều tra các tội tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội vì vụ lợi, cán bộ cơ quan nhà nước không làm tròn nhiệm vụ, lợi dụng chức quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân… Trong cơ quan Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở Trung Quốc đều có một bộ phận làm nhiệm vụ điều tra tội phạm tham nhũng do các Kiểm sát viên thực hiện. Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc có Tổng cục chống tham nhũng. Do luật quy định Viện kiểm sát Trung Quốc có nhiệm vụ trực tiếp điều tra các tội phạm tham nhũng, chính vì vậy, hiện nay, trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Trung Quốc, cùng với Ủy ban kiểm tra dân chủ kỷ luật của Đảng thì cơ quan Viện kiểm sát có vị trí và vai trò rất quan trọng trong công tác đấu tranh chống tham nhũng. Tham khảo pháp luật ở các quốc gia theo truyền thống luật Châu Âu lục địa, áp dụng mô hình tố tụng hình sự thiên về thẩm vấn (giống như nước ta) thì Viện kiểm sát, Viện Công tố có vai trò, trách nhiệm rất quan trọng trong hoạt động điều tra vụ án hình sự. Ở những nước này, cơ quan Viện kiểm sát, Viện Công tố có quyền chỉ đạo, giám sát hoạt động điều tra của Cảnh sát, có quyền trực tiếp điều tra tội phạm và chỉ huy Cảnh sát để hỗ trợ mình tiến hành các hoạt động điều tra nếu cần thiết. Tại Cộng hoà liên bang Đức, cơ quan Công tố có quyền điều tra bất kỳ vụ án nào nếu xét thấy cần thiết; tại Nhật Bản, Công tố viên điều tra các vụ án tham nhũng lớn, gian lận thương mại; còn tại Hàn Quốc, Công tố viên tiến hành điều tra một số tội phạm về tham nhũng, ô nhiễm môi trường, trốn thuế, ma tuý…

Ở nước ta, từ khi Viện kiểm sát nhân dân được thành lập (1960), hoạt động của Viện kiểm sát sát được quy định trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Từ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đầu tiên (1960) và ba lần sửa đổi sau này (1981, 1992 và 2002) đều quy định về hoạt động điều tra của Viện kiểm sát. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy định: Viện kiểm sát nhân dân “Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự”. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định “Trong trường hợp do pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp điều tra”. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 quy định: Viện kiểm sát nhân dân “Điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật tố tụng hình sự quy định”. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: Viện kiểm sát nhân dân “Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp”. Căn cứ các điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, cần tiếp tục quy định về thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là cần thiết và phù hợp.

Về thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, chúng tôi cho rằng không chỉ giới hạn “Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp” như Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, vì trong thực tế khi thấy cần thiết bổ sung chứng cứ, tài liệu để quyết định phê chuẩn hoặc ra các quyết định theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, hoặc khi phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm thì Viện kiểm sát phải trực tiếp điều tra nếu yêu cầu điều tra không được Cơ quan điều tra thực hiện hoặc nếu có căn cứ xác định rằng việc điều tra đó sẽ không khách quan nếu giao cho Cơ quan điều tra thực hiện.

Hoạt động tư pháp trong tố tụng được thể hiện trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Chúng tôi cho rằng cần quy định cụ thể về điều tra các hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp, bao gồm các hoạt động này.

Do vậy, tôi nhất trí với quan điểm của Ban soạn thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) là cần quy định: “Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra để kiểm tra, bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xem xét phê chuẩn hoặc ban hành các quyết định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc khi phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm” và quy định rõ thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân là “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra các tội phạm do cán bộ thuộc cơ quan tư pháp, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tư pháp thực hiện trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án”.

Quy định về hoạt động điều tra của Viện kiểm sát như trên không những phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, phù hợp với một trong những chủ trương về cải cách tư pháp, đó là “Giao Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp quyền hạn điều tra trong những trường hợp: Chứng cứ buộc tội (do Cơ quan điều tra Công an chuyển sang) chưa chắc chắn mà Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ và khi kiểm sát hoạt động tư pháp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm cần có chứng cứ để thực hiện việc truy tố và kháng nghị”; đồng thời cũng đáp ứng các điều kiện để Viện kiểm sát thực hiện có hiệu quả trách nhiệm “không để lọt tội phạm và người phạm tội” và đáp ứng yêu cầu “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” tại Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, ngay sau khi Viện kiểm sát nhân dân được thành lập (năm 1960), Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đã được thành lập ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đó là Vụ Điều tra thẩm cứu. Từ năm 1992 đến năm 2001, ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Cục Điều tra, các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có Phòng Điều tra. Từ năm 2002 đến nay, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 18 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân chỉ được tổ chức ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương và chỉ có thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kịp thời ổn định tổ chức bộ máy của Cơ quan điều tra, tăng cường phối hợp với các Viện kiểm sát địa phương để đấu tranh phòng, chống các loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp và đã đạt được những kết quả nhất định.

Những năm gần đây, thực hiện chủ trương đẩy mạnh thực hiện cải cách tư pháp, hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương đã có những chuyển biến tích cực. Các vụ án do Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương khởi tố, điều tra đều được tiến hành kiểm sát chặt chẽ theo đúng các quy định của pháp luật. Qua điều tra, giải quyết các vụ án, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát đã ban hành kiến nghị yêu cầu các cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật. Qua việc thực hiện thẩm quyền điều tra, Viện kiểm sát nhân dân đã góp phần bảo đảm sự tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Trước yêu cầu của cải cách tư pháp hiện nay, chúng tôi cho rằng, cần có nhận thức thống nhất về việc Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra các tội xâm phạm tính đúng đắn của các hoạt động tư pháp, phù hợp với phạm vi thực hiện chức năng, bảo đảm thực hiện tốt chức năng theo yêu cầu cải cách tư pháp. Việc duy trì Cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao trở thành một yêu cầu tất yếu để phát hiện kịp thời và xử lý theo pháp luật các hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể phạm tội là những người có chức danh và nhiệm vụ tiến hành các hoạt động tố tụng. Đồng thời, qua đó góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống tham nhũng trong hoạt động tư pháp.

Có nhận thức đúng vị trí, vai trò hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng thì mới thấy rõ sự cần thiết tổ chức Cơ quan điều tra trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Cùng với việc sửa đổi các quy định trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, cần có biện pháp cho mọi người (trước hết là trong các cơ quan tư pháp) xác định đúng vị trí, vai trò hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp và trong tố tụng hình sự; từ đó tạo ra sự ủng hộ đối với hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân để có sự phối hợp, hợp tác với Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật. Mặt khác, cần tổ chức nghiên cứu, quán triệt sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ trong đội ngũ Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân để nâng cao trách nhiệm, trình độ, nghiệp vụ điều tra để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao.

 Cùng với việc sửa đổi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Chương XXII của Bộ luật Hình sự cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng xác định rõ khái niệm “một số tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp” bao gồm các hành vi phạm tội do cán bộ các cơ quan tư pháp thực hiện trong quá trình thực thi hoạt động tư pháp. Mặt khác, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân (tập trung vào các quy định về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, quy định về Điều tra viên của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân); xác định rõ vị trí, vai trò, thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự và các quy định về quan hệ giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan tư pháp và cơ quan bổ trợ tư pháp. Theo đó, các văn bản pháp luật có liên quan cũng cần sửa đổi, bổ sung theo hướng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền điều tra đối với những vụ án khác khi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy cần thiết, để đảm bảo hỗ trợ và để thực hiện nghiêm chỉnh quyền công tố của Viện kiểm sát mà Nhà nước đã giao cho. Ví dụ: Trong trường hợp khi thực hành quyền công tố và kiểm điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát đã đề ra yêu cầu khởi tố nhưng các Cơ quan điều tra khác không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm chỉnh dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người không phạm tội; thì phải giao cho Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tiến hành điều tra để đảm bảo tính khách quan và triệt để theo quy định của pháp luật. Quy định như vậy không những bảo đảm tính khách quan, triệt để mà còn phù hợp với các quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1988 đến nay và phù hợp với cách làm hiện nay của nhiều nước trên thế giới.

 Có những ý kiến cho rằng việc tổ chức Cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát nhân dân sẽ dẫn đến việc “vừa đá bóng vừa thổi còi”, từ những phân tích nêu trên, tôi cho rằng nhận thức như vậy là chưa thấu đáo, chưa có cái nhìn chuẩn mực về tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta. Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nhằm bảo đảm hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác có liên quan của pháp luật. Cơ quan điều tra ở đây bao gồm: Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân (bao gồm Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan An ninh điều tra); Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân (bao gồm Cơ quan điều tra hình sự và Cơ quan An ninh điều tra ở Bộ Quốc phòng và cấp Quân khu); Cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát quân sự trung ương. Pháp luật cũng quy định Viện kiểm sát phải phát hiện kịp thời và yêu cầu Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra và Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện những yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Với các quy định chặt chẽ trong Bộ luật Tố tụng hình sự thì hoàn toàn đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm, hoàn toàn không có việc “vừa đá bóng vừa thổi còi” như đã nói

ở trên.

Xin lấy vụ minh oan cho ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang và việc khởi tố điều tra những hành vi cố tình làm sai pháp luật của những người tiến hành tố tụng đã dẫn đến nỗi oan sai cho ông Chấn làm ví dụ. Từ các nguồn tin khiếu nại và tố giác tội phạm, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã cử các Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra đã xác minh và xác định Lý Nguyễn Chung trú tại thôn Đoàn Kết, xã Ea Kmút, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk là thủ phạm đã gây ra cái chết đối với nạn nhân Nguyễn Thị Hoan. Từ kết quả điều tra này đã mở đầu cho hành trình minh oan đối với ông Nguyễn Thanh Chấn. Sau khi ông Nguyễn Thanh Chấn được minh oan, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục điều tra, xác minh để có căn cứ pháp lý trả lời cho câu hỏi: “Vì sao ông Nguyễn Thanh Chấn bị oan và ai là người đã gây ra oan sai cho ông Chấn?”. Với phương châm “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng”, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đơn vị kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất xác định đã có đủ căn cứ để kết luận chính Điều tra viên và Kiểm sát viên thụ lý vụ án giết người xảy ra tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ngày 15/8/2003 chính là những người đã cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án. Vì vậy, ngày 07/5/2014, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Làm sai lệch hồ sơ vụ án” theo Điều 300 Bộ luật Hình sự và ngày 08/5/2014, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục ra Quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Điều tra viên và Kiểm sát viên thụ lý vụ án này năm 2003 là ông Trần Nhật Luật, nguyên Phó Trưởng Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và ông Đặng Thế Vinh, nguyên Kiểm sát viên, Trưởng phòng 10 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang để điều tra về tội “Làm sai lệch hồ sơ vụ án”. Rõ ràng là, nếu có sự “vừa đá bóng vừa thổi còi” thì làm sao có kết cục và kết quả như mong muốn của bao người dân vì một nền công lý công minh và bình đẳng trước pháp luật như vậy!./.

Minh Đạo

Trích TCKS số 13/2014