Các tội cướp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản đều là tội xâm phạm sở hữu được quy định tại chương XIV BLHS cùng có khách thể bị xâm hại là quan hệ sở hữu và đối tượng tác động là tài sản. Các tội phạm  này đều là hành vi xâm hại đến quan hệ sở hữu, tức là xâm phạm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ tài sản. Hậu quả của nó là làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của mình. Nhưng các tội phạm này khác nhau về hình thức thể hiện.

 

Tin bài liên quan: Trao đổi bài viết "Cướp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản"

 

Tin bài liên quan: "Cướp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản"


 

Để khẳng định Nguyễn Văn Khanh, Lê Thanh Sang phạm tội gì, theo chúng tôi cần làm rõ ba vấn đề cơ bản sau: quy định của pháp luật về các yếu tố thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm của các tội: cướp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản (bởi vì, các tội phạm nêu trên cùng có các dấu hiệu giống nhau về khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của cấu thành tội phạm) trong BLHS; quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng dân sự và hành vi phạm tội đã thực hiện của 2 bị can như thế nào?

Thứ nhấtquy định của pháp luật về các yếu tố thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm của các tội: cướp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản:

* Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS)Theo quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS thì tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, xét về mặt khách quan thì tội cướp tài sản được thể hiện bởi một trong các hành vi: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất (có vũ khí hoặc không có vũ khí) để chủ động tấn công vào ai đó; hành động tấn công này có khả năng phương hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công và làm mất khả năng chống cự lại của họ (ví dụ: bắn, dùng dao chém, dùng gậy đánh…). Việc dùng vũ lực là nhằm mục đích làm cho người bị tấn công mất khả năng chống cự để cướp tài sản. Việc dùng vũ lực được thực hiện ở cả hai phương thức: bí mật và công khai (ví dụ: đánh sau gáy, bắn lén lút,…hoặc công nhiên để cho người bị tấn công biết, bất luận có người biết hay không). Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là đe dọa dùng ngay tức thì sức mạnh vật chất như nói ở trên nếu người bị tấn công  không chịu khuất phục (ví dụ: giơ súng dọa bắn, rút dao dọa chém, đâm,…) để buộc người bị tấn công phải sợ và tin rằng nếu không để cho lấy tài sản thì tính mạng, sức khỏe sẽ bị nguy hại. Đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực thông thường được kết hợp giữa hành vi sử dụng vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo để tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin rằng người phạm tội sẽ dùng bạo lực. Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi làm cho người bị tấn công tuy biết sự việc đang xảy ra nhưng không có cách nào chống cự được (như bị trói, nhét giẻ vào mồm không kêu cứu được, bị nhốt vào buồng kín không thể chạy đi cầu cứu…) hoặc tuy không bị nguy hại đến tính mạng, sức khỏe nhưng không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra (như lén lút cho ngửi hoặc cho uống thuốc mê làm nạn nhân bị mê man, bất tỉnh trong chốc lát, đủ thời gian để lấy tài sản…). Người bị tấn công là người đang quản lý tài sản, trông coi tài sản. Xét mối quan hệ sở hữu, thì tài sản đó có thể là tài sản của người bị tấn công hoặc của người khác. Nhưng người bị tấn công phải đang là người trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, trông coi tài sản đó.

Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, bất luận người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.

Về mặt chủ quan, tội cướp được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Kẻ phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội cướp tài sản. Nếu thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội cướp tài sản.

* Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS): trước hết là hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản này khác với các hành vi chiếm đoạt tài sản khác (như hành vi cướp, cưỡng đoạt, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, trộm cắp, lừa đảo…) bởi: dấu hiệu thể hiện ý chí chủ quan của kẻ phạm tội là công khai; và dấu hiệu về hoàn cảnh của người chủ sở hữu hoặc quản lý tài sản là khi những người này không có điều kiện ngăn cản.

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công nhiên trong khi chủ tài sản không có khả năng ngăn cản, bảo vệ được tài sản của mình. Chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó. Chiếm hữu trái phép tài sản là hành vi nắm giữ, quản lý tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, kẻ phạm tội có thể biết hoặc không biết tài sản đó là của ai nhưng chắc chắn biết là tài sản đó đang ở trong tình trạng không có người bảo quản, trông coi. Khác với tội chiếm đoạt khác, khi thực hiện hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, người phạm tội: không cần và không có ý định dùng bất cứ thủ đoạn nào đối phó với người có trách nhiệm về tài sản, không cần dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần chủ tài sản; và cũng không cần chạy trốn, nhanh chóng tẩu thoát…

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản hoàn thành từ thời điểm người phạm tội chiếm hữu được tài sản một cách trái phép.

* Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS): là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ (hoặc là lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác).

Tội trộm cắp tài sản trước hết là hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản này khác với các hành vi chiếm đoạt tài sản khác (như hành vi cướp, cưỡng đoạt, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo…) bởi: dấu hiệu thể hiện ý chí chủ quan của kẻ phạm tội là lén lút. Do vậy, có thể định nghĩa tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút. Trong đó:

Chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó. Chiếm hữu trái phép tài sản là hành vi nắm giữ, quản lý tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Pháp luật không quy định thế nào là chiếm hữu trái phép tài sản mà chỉ quy định những trường hợp chiếm hữu tài sản hợp pháp. Theo quy định tại Điều 182 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây là chiếm hữu có căn cứ pháp luật: Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật; người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;…Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Như vậy, ngoài những trường hợp chiếm hữu hợp pháp nêu trên, thì những trường hợp khác chiếm hữu tài sản đều là chiếm hữu tài sản trái pháp luật. Đối tượng bị chiếm hữu trái pháp luật là tài sản của người khác, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền về tài sản.

Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của người khác. Đó là hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác. Người bị bí mật chiếm đoạt tài sản là người chủ sở hữu hoặc quản lý tài sản, hoặc người khác. Người chủ sở hữu hoặc quản lý tài sản không biết tài sản của mình đang bị chiếm đoạt. Người khác không phải là người chủ sở hữu hoặc quản lý tài sản có thể biết hoặc không biết kẻ phạm tội đang lén lút chiếm đoạt tài sản. Việc này không ảnh hưởng đến việc định tội danh.

Tội trộm cắp tài sản hoàn thành từ thời điểm kẻ phạm tội chiếm đoạt được tài sản. Để xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa phải dựa vào đặc điểm và vị trí tài sản bị chiếm đoạt trong từng trường hợp cụ thể: Nếu tài sản bị chiếm đoạt là vật nhỏ, gọn thì được coi là đã chiếm đoạt được tài sản từ thời điểm người phạm tội đã dấu được tài sản đó trong người; còn tài sản bị chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi là đã chiếm đoạt được khi đã mang tài sản ra khỏi nơi bảo quản.

Thứ hai, quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) về hợp đồng dân sự tại Mục 7 Chương XVII Phần thứ ba cho thấy:

+ Điều 388. Khái niệm hợp đồng dân sự: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự: “1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói,…”.

+ Điều 404. Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự: “3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng”.

+ Điều 405. Hiệu lực của hợp đồng dân sự: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết,…”.

Thứ ba, hành vi phạm tội đã thực hiện của 2 bị can:

Nguyễn Văn Khanh, Lê Thanh Sang đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Thịnh ở hai lần, đó là:

+ Lần thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày 08/7/2012, Khanh và Sang kêu anh Thịnh chở xe ôm về nhà với giá tiền là 50.000đ. Nhưng vì cả 2 có ý nghĩ là sẽ “được đi xe chùa” nên “cả hai cùng bàn bạc với nhau là khi về gần đến nhà sẽ kiếm cớ gây sự để người đi xe ôm không dám lấy tiền và sẽ dùng số tiền đó tiếp tục mua rượu về nhậu…Khi anh Thịnh điều khiển xe đi vào lộ nông thôn đến cây cầu gần nhà của Khanh và Sang, thấy đoạn đường này vắng vẻ không có nhà dân và người qua lại. Thấy cơ hội thuận lợi đã đến nên cả hai kêu anh Thịnh dừng xe lại. Khanh ngồi sau cùng bước xuống trước đứng ngay đầu xe anh Thịnh hỏi liên tiếp hai lần “Còn có 10.000đ lấy không?, anh Thịnh nói “Mười ngàn cũng lấy, khi nào hai anh có tiền trả em thêm cũng được”. Lúc này, Sang cũng đã bước xuống xe vừa nói vừa lột chiếc nón bảo hiểm đang đội trên đầu rồi đánh liên tiếp 02-03 cái vào đầu của anh Thịnh. Do anh Thịnh vẫn còn đang đội nón bảo hiểm trên đầu nên không có bị thương tích gì. Thấy chiếc nón bảo hiểm đã bị bể mà anh Thịnh vẫn chưa chịu chạy, lúc này Sang chạy đến hàng rào ở gần đó nhổ một khúc cây và nói “Đập chết mẹ nó đi”. Thấy hai người khách lạ quá hung hãn anh Thịnh hoảng sợ, chỉ kịp giật lấy chiếc chìa khóa xe rồi chạy bộ về hướng khu vực có dân cư để trình báo Công an và bỏ chiếc xe mô tô lại tại hiện trường”.

Theo diễn biến trên cho thấy: giữa 2 bên (anh Thịnh với Khanh và Sang) đã có sự thỏa thuận, xác lập một hợp đồng dân sự (Điều 388 BLDS) bằng hình thức được giao kết bằng lời nói (Điều 401 BLDS). Đây là sự thỏa thuận hợp pháp theo quy định của pháp luật, không trái luật (hợp đồng miệng), do đó nó sẽ có hiệu lực từ thời điểm giao kết (Điều 405 BLDS). Trong vụ án này, kể từ thời điểm “Khanh và Sang “gọi” anh Thịnh lại và nói đồng ý với giá cả anh Thịnh đã đưa ra, anh Thịnh yêu cầu chở về nhà”, thì hợp đồng đã có hiệu lực thi hành và mặc nhiên số tiền 50.000 đồng đã thuộc về anh Thịnh (thuộc sở hữu của anh Thịnh) trừ khi anh Thịnh có lỗi trong việc không thực hiện đúng với những gì đã cam kết.  

Để thực hiện ý định sẽ “được đi xe chùa” và “kiếm cớ gây sự để người đi xe ôm không dám lấy tiền và sẽ dùng số tiền đó tiếp tục mua rượu về nhậu” của mình, nên Khanh và Sang đã thực hiện một số hành vi nhằm áp đảo tinh thần của anh Thịnh (dùng lời nói, thái độ kết hợp với điều kiện hoàn cảnh và thời điểm khi phạm tội, tương quan lực lượng giữa hai bên); đã trực tiếp dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công anh Thịnh (“Sang cũng đã bước xuống xe vừa nói vừa lột chiếc nón bảo hiểm đang đội trên đầu rồi đánh liên tiếp 02-03 cái vào đầu của anh Thịnh…Sang chạy đến hàng rào ở gần đó nhổ một khúc cây và nói “Đập chết mẹ nó đi”) làm cho anh Thịnh sợ hãi phải bỏ chạy không lấy được tài sản đã và sẽ thuộc về mình (50.000 đồng). Đối chiếu với quy định của pháp luật, các hành vi này của Khanh và Sang đối với anh Thịnh phù hợp với các hành vi được quy định trong mặt khách quan của tội cướp tài sản. Do đó, hành vi này của Khanh và Sang đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản theo Điều 133 BLHS.

+ Lần thứ hai: Trong vụ án này cho thấy: Nếu Khanh, Sang chỉ có ý định chiếm đoạt tiền trả xe ôm xong rồi đi về nhà mua đồ nhậu mà bàng quan, không có ý định chiếm đoạt xe máy, dù anh Thịnh đã bỏ chạy. Và sau khi đi về nhà được một khoảng thời gian hơi lâu (khoảng hơn 30 phút chẳng hạn), Khanh, Sang bàn nhau ra xem còn xe máy không thì lấy, nếu không còn thì thôi. Như vậy, Khanh, Sang đã thực hiện hành vi chiếm đoạt xe máy một cách lén lút trong trường hợp anh Thịnh (chủ quản lý hợp pháp tài sản) không có mặt, không biết tài sản của mình đang bị chiếm đoạt, nên phạm vào tội trộm cắp tài sản.

Nhưng ở đây Khanh và Sang không có hành vi lén lút trong khi chiếm đoạt tài sản (được quy định ở mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản), cũng như không có hành vi công khai chiếm đoạt tài sản trước mặt anh Thịnh (chủ quản lý hợp pháp tài sản) khi anh Thịnh không có điều kiện ngăn cản (được quy định ở mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản). Mà Khanh và Sang đã không bàng quan và đã có ý định chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản (chiếc xe máy) của anh Thịnh được Khanh và Sang thực hiện sau khi cả 2 đã thực hiện xong hành vi phạm tội lần thứ nhất. Việc anh Thịnh phải để xe máy lại và bỏ chạy nguyên nhân chính và trực tiếp là do các bị can đã dùng vũ lực tấn công và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc uy hiếp tinh thần anh Thịnh, làm cho anh Thịnh lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Do đó, hành vi này của Khanh và Sang cũng đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản theo Điều 133 BLHS.

Thông qua dấu hiệu đặc trưng, cơ bản về mặt khách quan của 3 tội phạm trên, đối chiếu với vụ án mà tác giả Sông Hậu đưa ra, chúng ta thấy rằng: Nguyễn Văn Khanh, Lê Thanh Sang không có hành vi “lén lút” hay“công khai”, mà đã có hành vi dùng vũ lực tấn công và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc uy hiếp tinh thần anh Thịnh, làm cho anh Thịnh lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản (50.000 đ và chiếc xe máy) của anh Thịnh. Kết hợp với các yếu tố khác như về độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, quy định của Bộ luật dân sự năm 2005,…) thì hành vi của Khanh, Sang đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 Bộ luật Hình sự.



Kim Việt - Nguồn: tapchikiemsat.org.vn