Đối với lĩnh vực tư pháp, Hiến pháp có nhiều điều chỉnh quan trọng, đặt yêu cầu phải tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, đồng thời, đòi hỏi tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hoạt động của các cơ quan tư pháp không chỉ dừng ở mục tiêu phát hiện, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật mà phải tôn trọng con người, vì sự hướng thiện của con người, đề cao dân chủ và phải đứng trên quan điểm đó để tiến hành tố tụng đối với vụ án. Những nội dung đổi mới nêu trên đòi hỏi phải được quán triệt vào nhiều dự án luật đang trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư pháp công bằng, nhân đạo, dân chủ, nghiêm minh, đề cao trách nhiệm trước nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan được Quốc hội giao chủ trì xây dựng Dự án BLTTHS, hơn ai hết cần phải thấm nhuần và thực hiện tốt yêu cầu này. Theo đó, định hướng sửa đổi BLTTHS phải quán triệt những yêu cầu mới của Hiến pháp như sau:

1. Bảo đảm quá trình giải quyết vụ án hình sự phải có sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ

Kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước là yêu cầu tất yếu, khách quan nhằm bảo đảm cho quyền lực được thực hiện đúng và có hiệu quả; là điều kiện cần thiết để thiết lập kỷ cương, kỷ luật, pháp chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thiếu kiểm tra, giám sát, kiểm soát sẽ xuất hiện sự lạm dụng quyền lực, đi ngược lại yêu cầu và lợi ích của người chủ quyền lực là nhân dân. Đảng ta đã nhận thức và khẳng định đầy đủ yêu cầu này trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện của Đảng(1). Hiến pháp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua đã thể chế hóa sâu sắc chủ trương quan trọng này và quy định rõ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 2). Từ nguyên tắc nền tảng nêu trên, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước đã được thể hiện thống nhất, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của Hiến pháp, với tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động tư pháp (lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, đến trật tự, kỷ cương xã hội) càng trở nên cần thiết và đặc biệt quan trọng. Do vậy, Hiến pháp quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm nhận vai trò là thiết chế giám sát độc lập, chuyên nghiệp và hiệu quả cao như đã được thực tiễn hơn năm 50 qua chứng minh; yêu cầu bổ sung các cơ chế để giám sát chặt chẽ hơn, bảo đảm các cơ quan tố tụng làm đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền đã được Hiến pháp và luật định.

Sửa đổi BLTTHS phải cụ thể hóa đầy đủ yêu cầu này. Bảo đảm mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải được kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ bởi nhiều cơ chế, bao gồm cả cơ chế tự kiểm tra bên trong mỗi hệ thống và cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống. Bổ sung các quy định để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát với tư cách là một thiết chế thực thi Hiến pháp, pháp luật và bảo vệ việc thực thi Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất, có trách nhiệm nắm bắt đầy đủ, kịp thời mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (kiểm soát đầu vào) và kiểm sát chặt chẽ toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tố tụng. Sửa đổi, bổ sung các quy định để tăng cường hiệu lực, hiệu quả cơ chế giám đốc, kiểm tra của Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới nhằm phát hiện kịp thời những sai sót trong bản án, quyết định của Tòa án các cấp. Sửa các quy định để bảo đảm sự kiểm soát giữa các khâu trong tiến trình tố tụng, khâu sau có trách nhiệm giám sát kết quả của khâu trước, loại bỏ chứng cứ do khâu trước thu thập bằng những biện pháp trái luật. Quy định cụ thể, minh bạch các thủ tục, bổ sung trách nhiệm và hình thức công khai các quyết định tố tụng nhằm tạo điều kiện để người dân dễ tiếp cận công lý và tăng khả năng giám sát của xã hội đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự. Những bổ sung này sẽ là cơ sở quan trọng góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, minh bạch, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của nhân dân.

2. Bảo đảm quy định chặt chẽ và kiểm soát nghiêm ngặt việc áp dụng mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Tư tưởng vì con người, vì nhân dân, lấy dân làm gốc luôn là mục tiêu, tôn chỉ trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân…”(2), “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”(3). Đảng ta khẳng định: “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người”(4). Hiến pháp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua đã xác lập cơ sở Hiến định mới để chúng ta thực hiện đầy đủ hơn, sâu sắc hơn tư tưởng của Đảng và Bác Hồ. Hiến pháp khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14). Như vậy, chỉ có các đạo luật của Quốc hội mới được phép quy định biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân và việc hạn chế cũng chỉ trong những trường hợp thật cần thiết bởi các lý do đã được giới hạn trong Hiến pháp. Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện tư tưởng pháp quyền, thái độ trân trọng và đề cao nhân dân, phòng ngừa sự lạm dụng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân từ phía các cơ quan công quyền.

Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, để đạt được mục đích cao nhất là phát hiện, làm rõ tội phạm và người phạm tội, áp dụng hình phạt thích hợp đối với người có lỗi, pháp luật của tất cả các nước đều cho phép áp dụng một số biện pháp có tính cưỡng chế đối với bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng. Cụ thể gồm: Các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm xuất nhập cảnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh…) và các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác (áp giải, dẫn giải, kê biên, thu giữ tài sản, phong tỏa tài khoản, các biện pháp khác…). Vấn đề cần nhấn mạnh là, không phải bất cứ bị can, bị cáo nào cũng là đối tượng của các biện pháp cưỡng chế. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chỉ đặt ra trong trường hợp thật cần thiết, khi đáp ứng đầy đủ căn cứ, điều kiện luật định và nếu không áp dụng thì sẽ khó khăn cho việc giải quyết vụ án, thậm chí đi vào bế tắc.

Từ những vấn đề nêu trên, đặt yêu cầu đối với quá trình xây dựng Dự án Bộ luật Tố tụng hình sự phải bám sát các yêu cầu mới của Hiến pháp để quy định chặt chẽ về biện pháp cưỡng chế tố tụng. Bảo đảm từng biện pháp đều phải được điều chỉnh cụ thể bởi năm yếu tố: Căn cứ áp dụng; thẩm quyền quyết định; trình tự; thủ tục; thời hạn tiến hành. Việc lạm dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân thay cho biện pháp thu thập chứng cứ khách quan là không thể chấp nhận. Mọi hành vi lạm dụng, sử dụng tùy tiện các biện pháp cưỡng chế tố tụng phải được ngăn chặn ngay từ quy định của luật. Đồng thời, về kỹ thuật lập pháp, cần rà soát, thu hút toàn bộ biện pháp cưỡng chế tố tụng để điều chỉnh chung trong một chương nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, nhất quán trong việc quy định các biện pháp này. Những quy định chặt chẽ, minh bạch về biện pháp cưỡng chế tố tụng còn tạo điều kiện cho các cơ quan chuyên môn áp dụng để kiểm soát và công dân giám sát, phát hiện vi phạm của cơ quan tố tụng, yêu cầu hủy bỏ các biện pháp đã áp dụng không đúng luật.

Cùng với việc ghi nhận nguyên tắc cơ bản trên, Hiến pháp sửa đổi còn dành một số điều nhằm xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền bí mật thông tin, quyền được an toàn về chỗ ở của công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Cụ thể, Hiến pháp quy định: Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác (Điều 21), khám xét chỗ ở (Điều 22)… phải do luật định thay vì giao cho pháp luật quy định như Hiến pháp năm 1992. Thực hiện yêu cầu này, đòi hỏi phải khẩn trương rà soát hệ thống các văn bản hướng dẫn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật để kịp thời báo cáo Quốc hội thu hút vào BLTTHS hoặc ban hành các đạo luật liên quan.

3. Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội

Suy đoán vô tội là nguyên tắc cơ bản của nền tư pháp dân chủ, thể hiện tinh thần pháp chế, tính công minh và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948 khẳng định: “Bất kỳ người nào bị buộc tội đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một Tòa án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những bảo đảm cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp” (Điều 11). Tiếp thu thành tựu của văn minh pháp lý nhân loại, Hiến pháp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua đã thể hiện một cách sâu sắc nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1 Điều 31). Có thể nói, điều chỉnh nêu trên của Hiến pháp là một dấu son, phản ánh sự phát triển của khoa học pháp lý và bước tiến của nền tư pháp nước nhà. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải thay đổi mạnh mẽ từ ý thức đến hành động của các cơ quan tố tụng. Theo đó, kể từ thời điểm thụ lý vụ án cho đến trước khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người bị buộc tội vẫn là người vô tội. Đây là tình trạng pháp lý khách quan của họ, cơ quan tố tụng không được đối xử với họ như người có tội. Mọi nghi ngờ về lỗi của người bị buộc tội trong quá trình giải quyết vụ án nếu không thể chứng minh, làm sáng tỏ bằng các biện pháp luật định thì phải suy đoán theo hướng có lợi cho họ. Yêu cầu này không chỉ nhằm bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, là động lực thúc đẩy các cơ quan tố tụng phải tăng cường hơn nữa tinh thần trách nhiệm, ý thức đấu tranh chống tội phạm để khẩn trương xác định cho được sự thật khách quan của vụ án.

Sửa đổi BLTTHS phải nhận thức đầy đủ yêu cầu mới của Hiến pháp để điều chỉnh cho phù hợp. Theo đó, cần sửa tên của nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9 BLTTHS hiện hành) thành “nguyên tắc suy đoán vô tội” để thể hiện trong BLTTHS mới. Quy định đầy đủ nội dung của nguyên tắc làm cơ sở cho việc thiết kế các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, cũng như các thủ tục tố tụng để bảo đảm cho suy đoán vô tội được thực thi trong thực tiễn. Cụ thể, đề xuất bổ sung quy định này theo hướng: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Mọi nghi ngờ về lỗi của người bị buộc tội nếu không thể chứng minh bằng các biện pháp do Bộ luật này quy định thì phải suy đoán theo hướng có lợi cho họ”. Xác định đầy đủ trong Bộ luật những đối tượng thuộc phạm trù người bị buộc tội nhằm bảo đảm quyền được suy đoán vô tội của những người này.

4. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là nguyên tắc cơ bản của mọi nền tư pháp dân chủ. Quyền tự do bào chữa là thành trì cần thiết cho các quyền tự do khác. Điều này đã được Hội luật gia dân chủ quốc tế khẳng định(5). Ở Nhà nước ta, bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội đã được ghi nhận ngay từ những bản Hiến pháp đầu tiên. Hiến pháp năm 1946 (Điều 67) quy định: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”; Hiến pháp năm 1959 tiếp tục khẳng định: “Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm”; các bản Hiến pháp năm 1980, năm 1992 tiếp tục ghi nhận và đề cao nguyên tắc quan trọng này. Hiến pháp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua có 4 điểm điều chỉnh liên quan đến nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa.

Thứ nhất, cùng với việc tiếp tục kế thừa cách quy định của Hiến pháp năm 1992, tức là dành một điều trong chương Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân để quy định về trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa (khoản 7 Điều 103), Hiến pháp sửa đổi đã bổ sung một điều quy định về nội dung này và đặt trong chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (khoản 4 Điều 31). Đây không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật lập hiến mà thực sự là bước phát triển trong tư duy và nhận thức lý luận. Bảo đảm quyền bào chữa không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan tư pháp, mà còn là một trong những quyền con người, quyền công dân quan trọng nhất của người bị buộc tội. Do vậy, trước hết phải được ghi nhận với tư cách là một quyền của con người, của công dân.

Thứ hai, mở rộng đối tượng được hưởng quyền bào chữa không chỉ gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như quy định hiện hành mà còn bao gồm người bị bắt, tạo cơ sở để họ thực hiện quyền bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngay từ giai đoạn bắt đầu của tố tụng.

Thứ ba, quy định rõ trong Hiến pháp các hình thức thực hiện quyền bào chữa, bao gồm: Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, tạo cơ sở hiến định để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thực hiện tốt nhất quyền con người quan trọng này.

Thứ tư, ngoài việc tiếp tục quy định quyền nhờ người khác bào chữa, Hiến pháp sửa đổi còn quy định rõ quyền nhờ luật sư bào chữa. Bổ sung này của Hiến pháp chính là ghi nhận về sự trưởng thành của đội ngũ luật sư nước ta thời gian qua; tạo cơ sở hiến định để hướng tới phát triển đội ngũ luật sư, đồng thời nâng chất lượng bào chữa cao hơn, chuyên nghiệp hơn, bảo vệ con người tốt hơn, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh tranh tụng.

Sửa đổi BLTTHS phải thể hiện sâu sắc những yêu cầu mới của Hiến pháp. Bổ sung người bị bắt có quyền bào chữa. Quy định đầy đủ các quyền và xây dựng cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người bị buộc tội. Mở rộng diện người bào chữa theo hướng ngoài những chủ thể đã được quy định trong pháp luật hiện hành, bổ sung Trợ giúp viên pháp lý và những người thân thích của người bị buộc tội nếu có khả năng bào chữa. Mở rộng những trường hợp bắt buộc phải chỉ định người bào chữa. Quy định quyền thu thập, sử dụng chứng cứ của người bào chữa; trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc hỗ trợ người bào chữa thu thập chứng cứ. Quy định cụ thể, minh bạch các thủ tục bào chữa trong từng giai đoạn tố tụng, tạo cơ sở pháp lý để cả cơ quan tố tụng và người bào chữa làm tròn phận sự bảo vệ người bị buộc tội theo đúng quy định của pháp luật. Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính tư pháp để người bào chữa nhanh chóng tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án. Điều này cũng đặt trách nhiệm cho người bào chữa phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm túc. Người bào chữa tham gia tố tụng không chỉ để thực hiện việc gỡ tội cho bị can, bị cáo bằng mọi giá, mà suốt quá trình đó, chính họ cần trở thành những cộng tác viên hỗ trợ tích cực, cùng các cơ quan tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án.

5. Bảo đảm tranh tụng, công bằng trong xét xử

Một trong những điểm mới của Hiến pháp sửa đổi đó là ghi nhận và khẳng định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (khoản 5 Điều 103), tạo bước đột phá cho việc lựa chọn và đổi mới mô hình tố tụng tư pháp Việt Nam. Hoạt động tố tụng hình sự là quá trình phát hiện, điều tra, tái hiện sự thật khách quan đã xảy ra trong quá khứ. Quá trình đó, cả cơ quan tố tụng và người tham gia tố tụng đều có nhu cầu kiểm tra, bổ sung chứng cứ, tranh luận và phản biện lý lẽ của nhau. Do đó, tranh tụng là yêu cầu khách quan của tố tụng hình sự, mà tập trung nhất ở giai đoạn xét xử tại phiên tòa. Cùng với việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Hiến pháp bổ sung quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử công bằng (khoản 2 Điều 31). Đây là hai nội dung có mối liên quan chặt chẽ, là tiền đề tồn tại của nhau. Tranh tụng sẽ tạo ra sự công bằng giữa các bên và công bằng sẽ được bảo đảm tốt nếu thực hiện đầy đủ yêu cầu của tranh tụng. Có thể nói, điều chỉnh nêu trên là những minh chứng cụ thể về một bản Hiến pháp khoa học, tiến bộ, phù hợp với xu thế khách quan của khoa học pháp lý về tố tụng hình sự cũng như tiến trình phát triển của tư pháp dân chủ thế giới.

Để bảo đảm cho tranh tụng được thực thi trong thực tiễn đòi hỏi phải có sự điều chỉnh cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, chế định chứng cứ, chứng minh, cũng như các thủ tục tố tụng khác. Theo đó, Kiểm sát viên với tư cách là một bên tranh tụng phải được đào tạo chuyên nghiệp hơn; có trách nhiệm cao hơn trong việc chứng minh quan điểm buộc tội của mình, chủ động trong việc xét hỏi, đối đáp, tranh luận dân chủ với người bào chữa và bị cáo. Đồng thời sửa đổi BLTTHS cần thiết phải điều chỉnh các quy định ngay từ giai đoạn điều tra nhằm bảo đảm mọi yêu cầu của Viện kiểm sát về chứng minh tội phạm và người phạm tội phải được Cơ quan điều tra đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Bị can, bị cáo và người bào chữa phải được tạo những điều kiện tốt nhất để chứng minh sự vô tội, giảm tội, giảm hình phạt; được bình đẳng trong việc thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ, tranh luận và trình bày quan điểm. Tranh tụng phải trở thành quyền và nghĩa vụ của tất cả các bên, mọi chứng cứ đưa ra phải được luận chứng và phản biện trên cơ sở quy định của pháp luật. Tòa án phải thực sự khách quan, vô tư trong quá trình xét xử, tôn trọng và lắng nghe đầy đủ ý kiến của các bên. Phán quyết của Tòa án chỉ căn cứ vào kết quả tranh tụng và các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa. Có như vậy, mới thực sự đạt được sự tâm phục, khẩu phục, củng cố lòng tin của nhân dân vào công lý, sự công minh của pháp luật.

6. Bảo đảm việc giải quyết vụ án khẩn trương, đúng thời hạn luật định

Lần đầu tiên Hiến pháp nước ta hiến định quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định (khoản 2 Điều 31). Đây là yêu cầu quan trọng của tư pháp, nhất là đối với lĩnh vực tư pháp hình sự. Quá trình áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này liên quan trực tiếp đến phẩm giá và những quyền thiêng liêng nhất của con người (quyền tự do thân thể, quyền sống…). Bảo vệ những giá trị quan trọng này đòi hỏi mọi biện pháp tố tụng hình sự phải được quy định thật chặt chẽ về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành. Kéo dài tình trạng pháp lý hình sự đối với con người không phải là biểu hiện của một nền tư pháp văn minh. Việc giải quyết vụ án trên thực tế phải thật khẩn trương, kịp thời. Có như vậy phán quyết được ban hành mới thực sự là hiện thân của công lý, công bằng xã hội, có tác dụng giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa tội phạm kịp thời.

Đáp ứng yêu cầu nêu trên, một trong những vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi BLTTHS là phải điều chỉnh một cách hợp lý chế định thời hạn tố tụng. Đây là vấn đề rất phức tạp, cần đáp ứng cả hai yêu cầu: Một là, bảo đảm đủ thời gian cần thiết để cơ quan tố tụng phát hiện tội phạm mà không bị sức ép về thời hạn, nhất là trong điều kiện nguồn nhân lực và vật lực dành cho cơ quan tư pháp còn nhiều khó khăn như hiện nay; Hai là, rút ngắn tối đa các thời hạn để bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Không vì thuận lợi của các cơ quan tố tụng mà đẩy khó khăn cho người dân và ngược lại. Trên cơ sở đó, sửa đổi chế định thời hạn trong BLTTHS cần rà soát để bảo đảm mọi hoạt động tố tụng đều phải bị ràng buộc bởi thời hạn nhằm tránh sự tùy tiện, lạm dụng trong thực tiễn. Quy định chặt chẽ hơn một số thời hạn để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án. Nghiên cứu tăng một số thời hạn nhằm bảo đảm tính khả thi và tránh gây áp lực với cơ quan tố tụng. Theo đó, có thể thay đổi một cách hợp lý thời hạn xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; thời hạn phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; thời hạn giao quyết định, tài liệu tố tụng đối với những vụ án có đông bị can; thời hạn xét xử; thời hạn đưa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành; quy định chặt chẽ hơn về thời hạn và số lần trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Khắc phục cách quy định dàn đều về thủ tục trong BLTTHS hiện hành. Theo đó, cần có những thủ tục áp dụng đối với những loại án ít phức tạp, chứng cứ đơn giản nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết, sớm kết thúc vụ án; đồng thời, có những thủ tục phù hợp để xử lý đối với những loại án nghiêm trọng, phức tạp. Đổi mới thủ tục rút gọn theo hướng quy định bắt buộc áp dụng thủ tục này khi có đủ điều kiện luật định thay cho tùy nghi áp dụng như hiện nay; mở rộng việc áp dụng thủ tục rút gọn cả với tội nghiêm trọng chứ không chỉ với tội ít nghiêm trọng như hiện hành. Những đổi mới này sẽ góp phần quan trọng để thực hiện tốt nguyên tắc kịp thời, chính xác, tiết kiệm trong hoạt động tư pháp.

7. Bảo đảm nguyên tắc bồi thường và xử lý khi oan, sai

Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, đề cao trách nhiệm trước nhân dân, không để xảy ra oan, sai và nếu có trường hợp oan, sai thì phải kịp thời khắc phục, chịu trách nhiệm bồi thường là nội dung quan trọng của cải cách tư pháp, được đề ra trong các nghị quyết của Đảng. Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và nhiều văn bản pháp luật khác đã được ban hành để thực hiện chủ trương quan trọng này. Đồng thời, các nghị quyết của Đảng, Hiến pháp và pháp luật còn giao cho Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyên trách điều tra tội phạm trong lĩnh vực tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp. Điều này thể hiện sự quyết tâm và thái độ kiên quyết của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng một nền tư pháp vì nhân dân, phụng sự nhân dân, loại bỏ mọi vi phạm trong hoạt động tư pháp.

Nguyên tắc “Các cơ quan tư pháp khi tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm về những việc làm trái pháp luật và bồi thường oan, sai cho công dân” tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp sửa đổi (khoản 5 Điều 31). Đồng thời, Hiến pháp bổ sung người bị khởi tố, điều tra, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại ngoài những chủ thể đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992; bổ sung người vi phạm pháp luật trong việc khởi tố, điều tra, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật. Ngoài bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự, Hiến pháp sửa đổi còn bổ sung trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần. Những điều chỉnh nêu trên chính là sự khẳng định một cách nhất quán tinh thần trách nhiệm, thái độ cầu thị của Đảng và Nhà nước, có sai thì phải sửa. Những yêu cầu này phải được nhận thức và thể hiện đầy đủ trong quá trình sửa đổi BLTTHS và các văn bản pháp luật liên quan.

Sửa đổi BLTTHS phải phân định rõ ràng, rành mạch chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tố tụng, bảo đảm mỗi cơ quan phải chịu trách nhiệm độc lập về kết luận của mình. Rà soát toàn diện các quy định hiện hành, đề xuất sửa đổi, bổ sung phù hợp để giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, tránh để xảy ra oan, sai cho công dân. Không làm oan người vô tội phải vừa là đạo đức công vụ, vừa là trách nhiệm pháp lý của người tiến hành tố tụng hình sự. Đã đến lúc cần tính toán lại cơ chế phân cấp thẩm quyền giữa Thủ trưởng với những người trực tiếp tiến hành tố tụng. Đổi mới tố tụng hình sự cần bắt đầu từ việc đề cao trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, mạnh dạn giao thẩm quyền tố tụng để họ chủ động thực thi nhiệm vụ. Bảo đảm quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm, chỉ khi quyền hạn gắn với trách nhiệm thì người tiến hành tố tụng mới thật sự thận trọng trong việc xử lý vụ án. Phân định lại thẩm quyền tố tụng cần triển khai theo hướng: Đối với những thẩm quyền tố tụng quan trọng, có tính chất đóng, mở một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân sẽ giao cho Thủ trưởng các cơ quan tố tụng quyết định; những thẩm quyền nhằm phát hiện, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án giao cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán quyết định. Làm được điều này cùng với sự kiểm soát tốt quá trình giải quyết vụ án sẽ là điều kiện để hình thành một đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng thông thạo, chuyên nghiệp và có trách nhiệm cao trong tương lai.

Đề cao, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật là tư tưởng lớn của Hiến pháp sửa đổi. Tư tưởng này sẽ được thấm nhuần, thể hiện sâu sắc trong Dự án BLTTHS. Cùng với tiến trình đi lên của đất nước, BLTTHS mới sẽ góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp vì con người, vì nhân dân./.

Nguyễn Hòa Bình

Nguồn TCKS

 (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2011, tr 85, 247.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập V, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1999, tr. 698.

(3) Hồ Chí Minh, Nhà nước và pháp luật, Nxb. Pháp lý, H. 1995, tr. 64.

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2011, tr 85.

(5) Công báo nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, số 34, H. 1956, tr. 328.


Theo: http://www.tapchikiemsat.org.vn