Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, thời gian qua, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội (Viện phúc thẩm 1) luôn chú trọng đến việc phát hiện những sai sót trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, tập hợp và ra thông báo rút kinh nghiệm chung trong toàn ngành. Tính từ đầu năm đến nay, Viện phúc thẩm 1 đã ban hành 07 thông báo rút kinh nghiệm, trong đó có 05 thông báo rút kinh nghiệm trong lĩnh vực điều tra, xét xử hình sự; 01 thông báo rút kinh nghiệm trong lĩnh vực hành chính và 01 thông báo rút kinh nghiệm trong giải quyết án kinh doanh thương mại, điển hình là:

 

1. Rút kinh nghiệm vụ án Nguyễn Hồng Minh phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra lại.

Nội dung vụ án: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2009 đến tháng 3/2012, Nguyễn Hồng Minh chiếm đoạt của 17 bị hại với tổng số tiền là 15.766.600.000 đồng bằng các hành vi sau:

- Làm giả hồ sơ nhà đất để chứng minh mình là chủ sở hữu của lô biệt thự tại các khu đô thị, sau đó bán biệt thự cho ông Vũ Ngọc Khanh và ông Trương Tuấn Nghĩa chiếm đoạt 5.116.600.000 đồng, bán cho ông Nguyễn Thanh Tùng chiếm đoạt 2.600.000.000 đồng.

- Tự nhận là giám đốc Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị, có khả năng mua được đất ở các dự án, bằng thủ đoạn nhận mua hộ đất, bị cáo chiếm đoạt của 14 người bị hại 8.050.000.000 đồng.

Với hành vi trên, bị cáo bị Tòa sơ thẩm xử phạt tù chung thân về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, 9/17 bị hại kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm do bỏ lọt người đồng phạm Nguyễn Thị Hà - vợ của bị cáo; xem xét lại việc cơ quan điều tra không thực hiện việc kê biên tài sản dẫn đến bị cáo tẩu tán tài sản, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi người bị hại. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tối cao thực hành quyền công tố đã đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra lại và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Những vi phạm trong quá trình điều tra, đó là: Có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và không áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với người phạm tội.

Tài liệu điều tra thể hiện bị cáo cùng vợ là Phạm Thị Hà tham gia hầu hết các giao dịch mua bán nhà ở, cụ thể: Hà trực tiếp nhận của bị hại Vũ Ngọc Khanh 1.950.000.000 đồng vào ngày 10/3/2010 và 2.500.000.000 đồng vào ngày 06/4/2010; nhận của Nguyễn Thanh Tùng 2.600.000.000 đồng vào ngày 27/3/2010 là các khoản tiền bán biệt thự. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, một số bị hại còn xuất trình “Giấy biên nhận đặt cọc” có chữ ký của Hà. Hà còn tham gia ký hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền, ký biên bản bàn giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (không có thật) cho Vũ Ngọc Khanh, Trương Tuấn Nghĩa, Vũ Thanh Tùng. Số tiền nhận được, có khoản Hà giao ngay cho chồng, có khoản cùng chồng đi mua đất (nhận từ Vũ Ngọc Khanh 2,5 tỷ đồng vào ngày 06/4/2010 thì ngay hôm sau Hà đã cùng chồng mua 50,3 m2 đất của anh Kiên, tài sản đứng tên Hà). Bị cáo Minh bằng nhiều lời khai cũng khẳng định Hà là người trực tiếp nhận tiền từ các bị hại. Ngoài các hành vi như đã nêu trên, khi Minh đã bị cơ quan điều tra khởi tố, bắt tạm giam, Hà còn chủ động cùng Minh tẩu tán các tài sản có được từ tiền chiếm đoạt của bị hại. Như vậy có cơ sở xác định việc cơ quan tố tụng ở cấp sơ thẩm không xem xét xử lý đối với Hà là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Bị cáo Nguyễn Hồng Minh bị bắt khẩn cấp ngày 07/5/2010, bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 14/5/2010. Tại bản tường trình ngày 06/5/2010, (trước khi bị bắt) bị cáo khai: Số tiền lừa đảo tôi đã mua đất của anh Kiên. Các lời khai sau này bị cáo liên tục thừa nhận tiền lừa đảo bị cáo mua đất, nếu cơ quan công an yêu cầu sẽ bán đất để trả lại tiền cho bị hại. Ngày 22/6/2010, bị hại Khanh và Nghĩa có đơn yêu cầu cơ quan điều tra kê biên mảnh đất 50,3 m2 bị cáo mua của anh Kiên. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã không tiến hành kê biên tài sản mà còn trích xuất can phạm tạo điều kiện thuận lợi cho Công chứng viên Đào Nguyên Khải, thuộc Văn phòng Công chứng Đào và đồng nghiệp vào trại giam cho bị cáo ký vào biên bản chuyển nhượng hợp đồng công chứng số 10980 ngày 2-3/8/2010 với nội dung: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất 50,3 m2 cho người mua Trần Minh Trâm.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm: Bản chất của đối tượng phạm tội là không thành khẩn, chối tội, đổ lỗi cho người khác nếu có cơ hội nhằm trốn tránh pháp luật. Do vậy, để xác định được một người có thực hiện hành vi phạm tội hay không cần phải xem xét một cách toàn diện các yếu tố, đặc biệt là hành vi khách quan - biểu hiện ra bên ngoài của ý thức chủ quan. Trong vụ án trên, Phạm Thị Hà tham gia một loạt hành vi khách quan như ký vào các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền… trực tiếp nhận tiền mặt trong hầu hết các thương vụ lừa đảo của Minh. Nếu không có sự tham gia của Hà vào các hợp đồng thì chắc chắn bị hại sẽ không tin tưởng giao tiền cho bị cáo bởi pháp luật dân sự quy định rất chặt chẽ về thủ tục mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đa số các trường hợp phải có chữ ký của vợ khi quan hệ hôn nhân đang tồn tại. Hà khai với cơ quan điều tra, thấy Minh ký vào hợp đồng chuyển nhượng biệt thự cho ông Khanh thì Hà cũng ký vào mà không đọc nội dung là phi lý, bởi Hà là người có đầy đủ năng lực hành vi, không có nhà nhưng ký “bừa” vào hợp đồng bán nhà buộc Hà phải hình dung ra hậu quả xảy ra. Hà lại là người được hưởng lợi từ việc ký các hồ sơ mua bán, chuyển nhượng giả đó thì không thể nói Hà là “vô can”. Đặc biệt là hành vi ký hợp đồng chuyển nhượng 50,3 m2 đất cho bà Trâm sau khi Minh đã bị bắt, bị khởi tố nhằm tẩu tán tài sản là có dấu hiệu của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Viện kiểm sát và Tòa án đã có nhiều văn bản trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện nghiêm túc các yêu cầu điều tra dẫn đến bỏ lọt tội phạm và cùng với sai sót này là việc Cơ quan điều tra “tạo điều kiện” để bị cáo ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản, gây thiệt hại quyền lợi của người bị hại, khiến cho 9/17 bị hại kháng cáo nghi ngờ về tính không minh bạch, thiếu trung thực trong hoạt động điều tra, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Sai sót nghiêm trọng này đã được cấp phúc thẩm khắc phục bằng việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại và có kiến nghị số 02/KG-VKSTC-VPT1 kiến nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội yêu cầu khắc phục vi phạm trên.

2. Rút kinh nghiệm vụ án Hà Văn Tiên phạm tội "Giết người"

Nội dung vụ án như sau: Hà Văn Tiên cùng các anh, chị Hoàng Văn Thiện (sinh năm 1991), Hà Thị Bình (sinh năm 1995), Hà Thị Út (tức Hằng - sinh năm 1996), Hà Công Nam (sinh năm 1996), Hà Văn Cường (sinh năm 1996) và Lò Văn Bằng (sinh năm 1994) đều trú tại xã Thanh Phong, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa cùng đến làm thuê cho vợ chồng anh Lê Đình Sơn và chị Nguyễn Thị Nghĩa.

Khoảng 20h ngày 18/5/2012, sau khi ăn cơm xong, Thiện rủ Tiên, Nam, Cường và Bằng đi ra quán nhà anh Nguyễn Văn Cầu cách nhà anh Sơn khoảng 300m ở cùng thôn để uống bia nhưng Tiên, Cường và Bằng không đi mà chỉ có Nam đi cùng với Thiện, còn Cường và Bằng đi ra ngoài đường chơi. Do sợ thanh niên trong làng đánh Cường và Bằng nên chị Nghĩa bảo Tiên đi tìm hai người về. Khi Tiên đi qua trước cửa quán nhà anh Cầu thì Thiện nhìn thấy và gọi Tiên vào chơi nhưng Tiên không nói gì mà vẫn đi thẳng về phía ngã ba đường bê tông thôn Hiển Dương để tìm Bằng và Cường nhưng không thấy. Tiên quay lại đi về đến cửa quán nhà anh Cầu thì Thiện đi ra ngoài gọi “Sơn ơi (tức Tiên) vào uống bia” nhưng Tiên nói “Tao về nhà có tý việc, tao phải về xin phép anh chị (tức anh chị Sơn - Nghĩa chủ nhà) đã”. Thiện nói “mày về thì về luôn đi”. Tiên nói “ừ, thì tao về” và tiếp tục bước đi. Thấy vậy, Thiện đi nhanh ra đuổi kịp Tiên và nói “Mày khinh tao à, tao mời mày vào uống bia sao mày không vào”. Tiên nói “tao có khinh mày đâu, tao về nhà có tý việc” và tiếp tục bước đi thì Thiện đuổi theo và lao vào đấm Tiên một cái vào mặt. Tiên tránh được nên không trúng. Thiện lại đấm tiếp một cái nữa trúng vào ngực Tiên, Tiên cũng đấm lại một cái trúng vào ngực Thiện. Lúc này, Bình và Út (Hằng) đang đứng gần đó chạy vào can ngăn. Tiên gạt tay Út ra và nói “bỏ tay anh ra, để xem nó định làm gì” và vẫn đứng yên tại chỗ. Còn Bình túm tay Thiện kéo ra và nói “Hai anh đừng đánh nhau nữa” nhưng Thiện không nghe. Bình tiếp tục xông vào để túm giữ Thiện thì bị Thiện đấm một cái vào mạng sườn bên trái và một cái vào trán nên không giữ Thiện. Thiện dùng tay phải đấm, tay trái túm vào cổ áo Tiên và vừa túm giữ, vừa xô đẩy người Tiên về phía sau làm Tiên bị vấp ngã ngửa người về phía sau xuống mặt đường bê tông, tay trái của Tiên túm chặt vào tay phải của Thiện kéo theo Thiện ngã đè sấp lên người Tiên. Ngay lập tức, Tiên co chân trái lên, xoay nghiêng người Thiện hất xuống mặt đường làm Thiện bị ngã ngửa đập mạnh phần sau đầu xuống mặt đường bê tông. Tiên chồm lên trên người Thiện, hai chân kẹp chặt vào người, tay trái chống xuống mặt đường còn tay phải ấn tỳ lên phần ngực và giơ tay lên định đấm nhưng không thấy Thiện có cử động gì và được Bình, Nam, Út chạy vào can ngăn kéo Tiên ra khỏi người Thiện nên Tiên đứng dậy và bỏ về nhà trước, còn Nam cõng Thiện về nhà anh Sơn để cứu chữa và đưa Thiện đến trung tâm y tế huyện cấp cứu. Do thương tích quá nặng, Thiện đã chết trên đường đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 53/PC54 ngày 23/5/2012 đã kết luận:

- Cơ chế hình thành thương tích trên tử thi:

+ Vùng trán bên trái có vết xây sát da kích thước 1x1cm là do trong quá trình xô xát giữa nạn nhân và đối tượng gây ra.

+ Dấu vết thương tích vùng đỉnh chẩm làm cho tổ chức da và dưới da sưng nề bầm tụ máu, xương hộp sọ tại vị trí tương ứng bị rạn vỡ là do vật tày gây ra.

- Nguyên nhân chết: Rạn vỡ xương hộp sọ, chảy máu ngoài màng cứng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, án sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 93, điểm b,đ,p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn Tiên 05 năm tù về tội "Giết người".

Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp bị hại kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo.

Bản án phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 4 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích".

Vấn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này là giữa bị cáo và bị hại là bạn chơi với nhau, không có mâu thuẫn. Bị hại Thiện gây sự và đánh trước, bị cáo chống trả. Khi Thiện nằm đè lên người bị cáo, bị cáo hất Thiện ra để chống lại sự tấn công của Thiện. Sau đó, bị cáo ngồi lên người Thiện định đánh thì thấy Thiện không cử động và được mọi người can ngăn nên bị cáo bỏ đi. Như vậy, về hành vi khách quan cũng như ý thức chủ quan bị cáo không mong muốn bị hại chết. Việc người bị hại chết là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo nên hành vi của bị cáo không phạm tội "Giết người" mà chỉ có thể truy tố, xét xử bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

3. Rút kinh nghiệm vụ án Lý Văn Trọng phạm tội "Giết người" và "Cướp tài sản":

Tháng 12 năm 2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử vụ án Lý Văn Trọng, Nguyễn Thanh Hải phạm tội "Giết người" và "Cướp tài sản". Nội dung vụ án như sau:

Sáng ngày 27/02/2005, tại nhà nghỉ Hải Trung, Lý Văn Trọng và Nguyễn Thanh Hải đã có hành vi dùng dao nhọn giết chết anh Trần Hoàng Nam là lái xe của hãng taxi Cường Tùng ở thành phố Thái Nguyên mà hai bị cáo đã thuê taxi chở mình đi Hải Phòng từ tối hôm trước. Sau khi giết anh Nam, Hải và Trọng đã cướp tài sản của anh gồm điện thoại di động, xe ô tô taxi Jolie 7 chỗ ngồi, ví tiền và các giấy tờ tùy thân khác. Trong đó, Lý Văn Trọng là người cầm dao đâm, cắt cổ tước đoạt tính mạng anh Nam, còn Nguyễn Thanh Hải dùng chân tay không đấm đá anh Nam. Sau khi anh Nam chết, Hải là người trực tiếp lấy đi các tài sản của anh Nam rồi cùng nhau bỏ trốn. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên 320.000.000 đồng.

Bản giám định pháp y kết luận nguyên nhân chết của anh Trần Hoàng Nam: Mất máu cấp, thương tích do vật nhọn có một lưỡi sắc gây nên.

Với hành vi phạm tội nêu trên, án sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 93, khoản 3 Điều 133 Bộ luật Hình sự xử phạt Lý Văn Trọng tử hình về tội "Giết người", 15 năm tù về tội "Cướp tài sản", hình phạt chung là tử hình; Nguyễn Thanh Hải tù chung thân về tội "Giết người", 20 năm tù về tội "Cướp tài sản", hình phạt chung là tù chung thân.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Trọng và Hải kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bà Nguyễn Thị Minh Loan (mẹ đẻ anh Nam) theo bản án sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Hải và tăng bồi thường.

Với vụ án này, tư cách tham gia tố tụng, trong trường người bị hại đã chết thì những người thừa kế theo pháp luật là người đại diện hợp pháp của họ. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 theo thứ tự: Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, chồng, cha, mẹ đẻ... Trong vụ án này, bố anh Nam đã chết năm 1993 nên mẹ anh Nam là bà Loan phải xác định là người đại diện hợp pháp của bị hại. án sơ thẩm xác định bà Loan là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của đương sự.

Đối với chị Trần Thị Ngọc kết hôn với anh Nam năm 2000 và có hai con chung sinh năm 2001, 2003 nhưng không có đăng ký kết hôn. Căn cứ Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, tại chương I Điều 2.2 quy định: Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì theo pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Căn cứ quy định nêu trên thì chị Ngọc không được coi là vợ hợp pháp của anh Nam, án sơ thẩm xác định chị Ngọc là người đại diện hợp pháp của bị hại là không đúng, mà chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp cho hai con chung cùng anh Nam.

Do có những vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định hủy án sơ thẩm giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.



Nguồn: tapchikiemsat.org.vn