Việc xây dựng Dự án BLTTHS phải thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đảng, của Bác Hồ về một nền tư pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với mọi tội phạm, mang đậm tính nhân dân; thể hiện đầy đủ các nguyên tắc tư pháp tiến bộ đã được hiến định trong Hiến pháp mới. Đồng thời, phải kế thừa những quy định còn phù hợp, khắc phục một cách căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra trong thực tiễn; tham khảo, tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Ngay sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đưa Hiến pháp vào cuộc sống đã được đặt ra rất khẩn trương và nghiêm túc. Trong số đó, có Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), đạo luật có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, quyết định hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, liên quan trực tiếp đến những quyền cơ bản nhất của con người, của công dân. Việc xây dựng Dự án BLTTHS phải thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đảng, của Bác Hồ về một nền tư pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với mọi tội phạm, mang đậm tính nhân dân; thể hiện đầy đủ các nguyên tắc tư pháp tiến bộ đã được hiến định trong Hiến pháp mới. Đồng thời, phải kế thừa những quy định còn phù hợp, khắc phục một cách căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra trong thực tiễn; tham khảo, tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan được Quốc hội giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng Dự án BLTTHS phải thấm nhuần và thể chế hóa cao nhất các yêu cầu này trong Dự án luật. Theo đó, việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLTTHS phải trên những định hướng cơ bản sau đây:

1. Lựa chọn mô hình tố tụng hình sự ở nước ta

Kể từ ngày lập nước đến nay, chúng ta luôn áp dụng mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn. Điểm đặc thù của mô hình này là dành sự chủ động cho các cơ quan tố tụng trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án, chứng minh tội phạm. Ở điều kiện lịch sử cụ thể, việc áp dụng mô hình này đã phát huy tác dụng tích cực trong việc phát hiện và xử lý tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho phát triển.

Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng thời gian qua đã đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với quá trình cải cách tư pháp nói chung và giải quyết vụ án hình sự nói riêng. Hoạt động tố tụng hình sự (TTHS) một mặt phải hướng tới mục tiêu phát hiện, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật kịp thời, nghiêm minh, mặt khác, phải tôn trọng con người, đề cao dân chủ, công bằng. Đó là hai yêu cầu không thể tách rời khi tiến hành tố tụng đối với vụ án. Vì thế các nghị quyết của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”(1); Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 103). Như vậy, lựa chọn và xây dựng mô hình TTHS nước ta trong điều kiện hiện nay không hướng tới chuyển hẳn sang mô hình TTHS tranh tụng mà cần tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm của mô hình TTHS thẩm vấn, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước(2).

Điều này đặt ra yêu cầu đối với quá trình sửa đổi BLTTHS phải nghiên cứu, tổng kết được những nội dung hợp lý của mô hình thẩm vấn cần tiếp tục duy trì, những nội dung tích cực của mô hình tranh tụng có thể tiếp thu. Quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể gắn với sự phân chia các chức năng cơ bản trong TTHS (chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử) phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước; người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa được bảo đảm quyền bào chữa, chứng minh sự vô tội, giảm tội, giảm hình phạt. Đổi mới căn bản trình tự, thủ tục tại phiên tòa để thực hiện đầy đủ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

2. Đề cao trách nhiệm, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tố tụng nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Phát hiện chính xác, kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với mọi tội phạm, bảo vệ  tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và cuộc sống bình yên của nhân dân là mục tiêu hướng tới của mọi cuộc cải cách TTHS. Mục tiêu này đã được Đảng, Nhà nước ta quán triệt và kiên trì triển khai thực hiện qua các lần sửa đổi, bổ sung BLTTHS, đặt cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thực tế.

Tuy nhiên, tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 cho thấy các quy định hiện hành cũng còn nhiều bất cập. Luật thực định chưa xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của TTHS, về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tố tụng; thiếu nhiều trình tự, thủ tục cụ thể, bảo đảm cho các cơ quan thực hiện tốt trách nhiệm luật định, nhất là ở giai đoạn đầu tiên của tố tụng khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Việc phân cấp thẩm quyền chưa hợp lý dẫn đến các cơ quan tố tụng cấp trung ương vẫn trực tiếp thụ lý, giải quyết nhiều vụ án thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh, thậm chí của cả cấp huyện. Điều này một mặt làm giảm sút vai trò của các cơ quan trung ương trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, hướng dẫn cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật; mặt khác, làm cho quá trình giải quyết vụ án hình sự bị gián đoạn, không liên tục do phải ủy quyền tố tụng và gây ra những xáo trộn không nhỏ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tố tụng.

Yêu cầu đặt ra đối với việc sửa đổi BLTTHS là phải quy định thật đầy đủ, chặt chẽ quá trình giải quyết vụ án và đề cao trách nhiệm của các cơ quan tố tụng. Trên tinh thần đó, Dự án luật phải quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Quy định cơ quan điều tra cấp trung ương chỉ trực tiếp thụ lý, điều tra tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương. Bổ sung thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra cho các cơ quan như Kiểm ngư, Thuế vụ. Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh tố tụng thuộc cơ quan điều tra không chuyên trách. Đối với Viện kiểm sát, nhằm thể chế hóa chủ trương “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với điều tra”, cần bổ sung quy định trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát phải bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; tăng tính chủ động trong việc phân định đúng thẩm quyền điều tra; quy định Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung khi bị can kêu oan, bị can khiếu nại về hoạt động điều tra hoặc khi có căn cứ xác định hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật; bổ sung ba hoạt động bắt buộc phải có sự tham dự của Kiểm sát viên gồm: Đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra… Điều chỉnh một số thẩm quyền tố tụng của Tòa án để phù hợp với yêu cầu tăng cường tranh tụng; xây dựng thẩm quyền tố tụng cho bốn cấp Tòa án, Viện kiểm sát thay cho mô hình ba cấp tố tụng hiện nay.

3. Phân định thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tư pháp, tăng quyền, tăng trách nhiệm cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán

Phân định rõ thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tư pháp, tăng quyền, tăng trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán là chủ trương quan trọng của cải cách tư pháp(3). Vấn đề này sẽ chi phối đến việc tổ chức lao động, phân công trách nhiệm trong hoạt động tư pháp. Nếu việc phân định thẩm quyền hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy tiến độ giải quyết vụ án, phát huy trách nhiệm cá nhân của mỗi chức danh tố tụng. Ngược lại, nếu việc phân định thẩm quyền không hợp lý sẽ không khắc phục được thực trạng tập trung thẩm quyền cho thủ trưởng các cơ quan tố tụng, sẽ không đề cao được trách nhiệm, không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của những người trực tiếp tiến hành tố tụng, thậm chí còn khuyến khích sự tắc trách và tâm lý thiếu tự tin, dựa dẫm, ỷ lại của cấp dưới vào cấp trên.

Tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 phản ánh nhiều hạn chế, vướng mắc xung quanh chế định này. Quy định hiện hành chưa phân định rành mạch quyền hạn tố tụng giữa cấp trưởng và cấp phó, phần lớn các thẩm quyền được tập trung cho cấp trưởng. Thực tế, thủ trưởng các cơ quan tố tụng vừa đảm nhận vai trò của người đứng đầu cơ quan, phải thực hiện nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo hành chính, lại vừa là người có hầu hết thẩm quyền tố tụng. Do vậy, quá trình giải quyết vụ án, thủ trưởng các cơ quan rất ít khi trực tiếp tiến hành tố tụng mà chủ yếu ủy quyền cho cấp phó. Cùng với đó, việc phân định thẩm quyền giữa thủ trưởng các cơ quan tố tụng với người trực tiếp tiến hành tố tụng cũng bộc lộ nhiều bất cập. Theo quy định, lãnh đạo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ký hầu hết các quyết định tố tụng, trong khi đó, Điều tra viên, Kiểm sát viên là những người được phân công trực tiếp nghiên cứu, giải quyết vụ án lại chỉ được giao những thẩm quyền hạn chế, chủ yếu là tiến hành các biện pháp tố tụng nhằm thực thi các quyết định của thủ trưởng. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và tiến độ giải quyết vụ án hình sự.

Khắc phục những hạn chế nêu trên, BLTTHS sắp tới phải quy định cụ thể, rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng chức danh tố tụng, mỗi chức danh đều phải có địa vị pháp lý của mình, bảo đảm quyền hạn đi đôi với trách nhiệm. Có như vậy, người tiến hành tố tụng mới thật sự thận trọng, khách quan trong xử lý vụ án. Phân định rành mạch thẩm quyền giữa cấp trưởng và cấp phó các cơ quan tiến hành tố tụng. Xác định cấp phó là những chức danh tố tụng độc lập, được mở rộng quyền hạn hơn trong lĩnh vực được phân công phụ trách, chứ không phải chỉ được ủy quyền trong từng vụ án cụ thể. Trong nhiều trường hợp, cấp phó sẽ ký các quyết định tố tụng với tư cách là các chức danh độc lập và chịu trách nhiệm về quyết định của mình, không phải ký thay như hiện nay. Phân định thẩm quyền giữa thủ trưởng các cơ quan tố tụng với những người trực tiếp tiến hành tố tụng theo hướng đề cao trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Mạnh dạn giao thẩm quyền để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ. Theo đó, đối với những thẩm quyền tố tụng quan trọng, quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân giao cho Thủ trưởng cơ quan tố tụng thực hiện; những thẩm quyền nhằm phát hiện, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án giao cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán thực hiện. Những sửa đổi, bổ sung này sẽ tạo bước chuyển về chất trong hoạt động của các cơ quan tố tụng, thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án khẩn trương, chính xác, đề cao trách nhiệm đầy đủ của từng chức danh tố tụng, đồng thời, bảo đảm thận trọng, chặt chẽ trong kiểm soát hoạt động tố tụng, phù hợp với mặt bằng năng lực các chức danh tư pháp hiện nay.

4. Đổi mới chế định chứng cứ và chứng minh cho phù hợp với tình hình mới

Sự thành công hay thất bại của quá trình điều tra, truy tố, xét xử phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó chứng cứ giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Chứng cứ là phương tiện để tìm đến chân lý của vụ án. Các giai đoạn tố tụng được mở ra và kết thúc đều hướng đến việc tìm kiếm và làm rõ chứng cứ. Để được công nhận giá trị chứng minh, các nước đều yêu cầu chứng cứ phải có đầy đủ các thuộc tính sau đây: Một là, tính xác thực, là những sự vật, sự kiện đã xảy ra trong thực tế khách quan; Hai là, những sự vật, sự kiện đó phải liên quan đến sự việc phạm tội, có giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp chứng minh tội phạm; Ba là, tính hợp pháp, tức là phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục và từ các nguồn đã được luật định.

Liên quan đến nguồn chứng cứ, BLTTHS nước ta mới chỉ ghi nhận một số nguồn như: Vật chứng, lời khai, kết luận giám định, biên bản hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Theo đó, chỉ những thông tin chứa đựng trong các nguồn nêu trên mới có giá trị chứng minh. Những thông tin khác mặc dù thỏa mãn yêu cầu về tính xác thực, tính liên quan đến sự việc phạm tội nhưng không được phản ánh từ các nguồn mà BLTTHS đã quy định thì cũng không được công nhận là chứng cứ.

Để phù hợp với yêu cầu mới, cần sửa chế định chứng cứ và chứng minh theo định hướng sau đây:

Một là, mở rộng quyền thu thập chứng cứ cho những người tham gia tố tụng. Theo đó, không chỉ có các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) mới có quyền thu thập chứng cứ mà gồm cả những chủ thể tham gia tố tụng khác như: Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Điều này phù hợp với thực tiễn và là yêu cầu của mô hình tố tụng đề cao tranh tụng. BLTTHS hiện hành không quy định quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa, quyền cung cấp chứng cứ của người bị buộc tội đã làm cho quá trình tranh tụng trở nên không thực chất và kém thuyết phục.

Hai là, bổ sung dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ quan trọng và đặc thù. Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển như vũ bão đã làm biến đổi thế giới và trở thành phương tiện hữu ích, đa năng của con người. Bên cạnh đó, công nghệ thông tin cũng đang bị lợi dụng đáng kể cho các hoạt động phạm tội. Có thể nói, ngoài xã hội có các loại tội phạm gì thì trên mạng thông tin toàn cầu cũng có loại tội phạm đó. Thế giới tội phạm mạng cũng bao gồm đầy đủ từ trộm cắp, lừa đảo, khủng bố đến giết người, buôn bán ma túy.v.v. Vì vậy, việc bổ sung dữ liệu điện tử vào nguồn chứng cứ là một đòi hỏi khách quan. Dữ liệu điện tử không phải là sự vật, cũng không phải là sự kiện như quan niệm truyền thống. Đây là những ký tự được lưu giữ trong thiết bị điện tử (máy tính, máy ảnh, máy phôtô, mạng Internet…) mà từ đó có thể cho ra chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh… phản ánh sự kiện phạm tội. Những dữ liệu điện tử này một mặt rất dễ bị tẩy xóa, sửa chữa, thay đổi, hủy bỏ do cố ý hoặc vô ý; mặt khác, trong nhiều trường hợp tự nó không thể có giá trị chứng minh nếu không có sự tác động của các nhà chuyên môn với sự trợ giúp của các thiết bị điện tử và chương trình phần mềm được thừa nhận là khách quan và khoa học. Theo đó, quá trình sửa đổi BLTTHS phải quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu thập, phục hồi, phân tích dữ điện tử; thủ tục thu giữ phương tiện điện tử, cũng như việc chặn, thu dữ liệu điện tử trên đường truyền, trên mạng. Quy định việc sử dụng các thiết bị hoặc phần mềm được thế giới công nhận trong việc phục hồi dữ liệu nhằm bảo đảm tính khách quan, tính nguyên trạng và tính có thể kiểm chứng được của chứng cứ… Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với công tác đào tạo các chức danh tư pháp trong thời gian tới cần trang bị kiến thức, kỹ năng thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ điện tử. Những sửa đổi nêu trên sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc để đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao, góp phần hoàn thiện lý luận về chứng cứ nói chung và chứng cứ điện tử nói riêng.

5. Quy định chặt chẽ và kiểm soát nghiêm ngặt việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14). Như vậy, chỉ có các đạo luật của Quốc hội mới được phép quy định biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Việc hạn chế cũng chỉ trong những trường hợp thật cần thiết bởi các lý do đã được giới hạn trong Hiến pháp. Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện tư tưởng pháp quyền, thái độ trân trọng và đề cao dân chủ, ngăn ngừa việc tùy tiện ban hành các quy định dưới luật hạn chế quyền con người, quyền công dân.

Điều này đặt yêu cầu phải nghiên cứu, rà soát nhằm bảo đảm mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải được quy định chặt chẽ trong BLTTHS. Theo đó, nhất thiết phải xem xét cẩn trọng, bảo đảm đáp ứng đầy đủ các căn cứ, điều kiện luật định và tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ khi áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân phải là mục tiêu và động lực của các cơ quan tư pháp.

Thực hiện yêu cầu quan trọng này của Hiến pháp, nhiều nhà khoa học và cán bộ hoạt động thực tiễn đã đề xuất luật hóa các biện pháp điều tra đặc biệt vào Dự án

BLTTHS. Đây cũng là thông lệ của hầu hết các nền tư pháp tiến bộ trên thế giới. Đồng thời, là cam kết của chúng ta khi tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm. Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tập hợp đầy đủ nhất có thể mọi biện pháp cưỡng chế tố tụng, bảo đảm từng biện pháp cưỡng chế phải được điều chỉnh chặt chẽ bởi năm yếu tố: Căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục, thời hạn tiến hành. Quy định chặt chẽ căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam theo hướng cụ thể hóa các căn cứ được coi là cản trở quá trình điều tra, truy tố, xét xử và ngăn chặn khả năng tiếp tục phạm tội thay cho cách quy định nặng về định tính như hiện nay. Để phát huy hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn có tính chất thay thế cho biện pháp tạm giam, cần quy định cụ thể điều kiện đối với cá nhân đứng ra nhận bảo lĩnh, quy định chế tài phạt tiền áp dụng đối với người nhận bảo lĩnh trong trường hợp để bị can, bị cáo bỏ trốn. Đối với biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cần điều chỉnh theo hướng chỉ quy định đặt tiền, không quy định đặt tài sản nhằm nhanh chóng áp dụng biện pháp này trong thực tiễn.

6. Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm bảo đảm tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Suy đoán vô tội là nguyên tắc cơ bản của nền tư pháp tiến bộ, mang ý nghĩa nhân đạo và dân chủ sâu sắc. Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948 khẳng định: “Bất kỳ người nào bị buộc tội đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một Tòa án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những bảo đảm cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp” (Điều 11). Tiếp thu thành tựu của văn minh pháp lý nhân loại, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sâu sắc nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1 Điều 31). Điều chỉnh nêu trên của Hiến pháp đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy lý luận và sự phát triển của nền tư pháp nước nhà.

Nguyên tắc này khẳng định chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết một người có tội. Chừng nào chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì người bị buộc tội vẫn là người vô tội. Đây là tình trạng pháp lý khách quan của họ. Các cơ quan tố tụng một mặt phải đối xử với họ như người không có tội; mặt khác, phải tạo mọi điều kiện để người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa, gỡ tội. Việc chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục luật định. Nguyên tắc này còn có ý nghĩa chi phối rất lớn đối với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng. Biện pháp cưỡng chế không phải là hình phạt, không có mục đích trừng trị mà chỉ nhằm ngăn chặn hành vi cản trở, gây khó khăn đối với quá trình giải quyết vụ án hoặc tiếp tục phạm tội. Do vậy, tình trạng lạm dụng, sử dụng tùy tiện biện pháp cưỡng chế để thay cho các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ phải được ngăn chặn ngay từ quy định của luật.

Trên tinh thần đó, nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ là một nội dung mới của BLTTHS và được thể hiện: “Mọi nghi ngờ về lỗi của người bị buộc tội trong quá trình giải quyết vụ án nếu không thể chứng minh, làm sáng tỏ bằng các biện pháp luật định thì phải suy đoán theo hướng có lợi cho họ”. Cụ thể hóa các trình tự, thủ tục trong từng giai đoạn tố tụng làm cơ sở để các cơ quan tố tụng khẩn trương khám phá vụ án, đồng thời, thuận lợi cho nhân dân và các cơ quan dân cử giám sát hoạt động giải quyết vụ án. Quy định Tòa án sẽ không mở phiên tòa nếu có căn cứ xác định việc điều tra, truy tố trước đó vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Quy định chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục, thời hạn áp dụng biện pháp cưỡng chế, chỉ áp dụng các biện pháp này khi có căn cứ xác định người bị buộc tội gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.

7. Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội

Cải cách tư pháp đặt yêu cầu: “Bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng phán quyết bản án”(4). Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 103). Tranh tụng luôn là nhu cầu khách quan của tố tụng hình sự và được tập trung cao nhất ở giai đoạn xét xử. Tranh tụng không chỉ là hoạt động tranh luận tại phiên tòa mà bắt đầu từ rất sớm, kể từ khi có hoạt động buộc tội. Có buộc tội thì có nhu cầu kiểm tra, bổ sung chứng cứ, tranh luận, phản biện lý lẽ của nhau. Do đó, bảo đảm tranh tụng thực chất là tạo ra và bảo đảm những điều kiện để các chủ thể thực hiện tốt chức năng tố tụng của mình, bình đẳng trong hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh. Tranh tụng là điều kiện cần thiết để đạt tới chân lý khách quan của vụ án, là cơ sở để loại trừ những vi phạm, sai lầm tư pháp như: Bức cung, nhục hình, làm sai lệch hồ sơ vụ án, làm oan người vô tội. Cùng với việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Hiến pháp khẳng định “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” (khoản 4 Điều 31). Tranh tụng và bào chữa là hai nội dung có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Không thể có tranh tụng nếu không bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, tương tự như vậy, nếu quyền bào chữa được bảo đảm tức là đã thực hiện trên thực tế nguyên tắc tranh tụng.

Sửa đổi, bổ sung BLTTHS phải quán triệt và thể hiện được yêu cầu nêu trên của Hiến pháp. Theo đó, bổ sung đầy đủ diện người được bảo đảm quyền bào chữa ngoài người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như hiện hành, còn gồm người bị bắt. Quy định người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ thay vì chỉ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ thay vì chỉ có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết như hiện nay. Quy định người bị buộc tội có quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong trường hợp người bị buộc tội không có điều kiện mời luật sư (hiện nay, quyền này chỉ được quy định cho người bào chữa). Mở rộng diện người bào chữa gồm cả Trợ giúp viên pháp lý; mở rộng trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa gồm cả tội có mức hình phạt tù chung thân, người nghèo, người thuộc diện chính sách. Quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thời hạn cấp giấy chứng nhận bào chữa để người bào chữa nhanh chóng tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án. Kiểm sát viên với tư cách là một bên tranh tụng phải được đào tạo chuyên nghiệp hơn, có trách nhiệm cao hơn, chủ động hơn trong việc xét hỏi, tranh luận chứng minh cho quan điểm buộc tội của mình. Đồng thời, để Viện kiểm sát thực hiện tốt trách nhiệm tranh tụng tại phiên tòa, cần điều chỉnh các quy định ngay từ giai đoạn điều tra nhằm bảo đảm mọi yêu cầu của Viện kiểm sát về chứng minh tội phạm phải được Cơ quan điều tra đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án để phù hợp với nguyên tắc tranh tụng. Tòa án phải đảm đương vai trò khách quan, là người phân xử, quyết định tính có căn cứ và tính thuyết phục của từng chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội. Tòa án không phải là cơ quan truy tố bị cáo nên không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm nhưng phải chứng minh vì sao lại chấp nhận cáo trạng của Viện kiểm sát mà không chấp nhận chứng cứ của bên bào chữa hoặc ngược lại. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên trong việc đưa ra chứng cứ, chứng minh cho quan điểm của mình. Thông qua công tác xét xử, Tòa án có trách nhiệm kiểm soát quá trình bảo đảm quyền bào chữa của các giai đoạn tố tụng trước đó. Nếu phát hiện giai đoạn điều tra, truy tố vi phạm quyền bào chữa, Tòa án có quyền không đưa vụ án ra xét xử hoặc nếu đã mở phiên tòa thì tuyên bố tính vô hiệu của các chứng cứ đã được thu thập.

8. Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án khẩn trương, đúng thời hạn luật định

Lần đầu tiên Hiến pháp nước ta hiến định quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định (khoản 2 Điều 31). Đây là yêu cầu rất quan trọng của tư pháp, nhất là đối với lĩnh vực tư pháp hình sự, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phẩm giá và những quyền thiêng liêng nhất của con người (quyền tự do thân thể, quyền sống v.v…). Bảo vệ những giá trị quan trọng này đòi hỏi phải quy định thật chặt chẽ thời hạn tố tụng. Đặt ra thời hạn tố tụng chính là đặt ra giới hạn đối với thẩm quyền của các cơ quan tư pháp, là căn cứ để kiểm soát việc thực thi công vụ tư pháp. Hoạt động tố tụng phải được và chỉ được thực hiện trong thời hạn luật định. Kéo dài tình tình trạng pháp lý hình sự đối với con người không phải là biểu hiện của nền tư pháp văn minh.

Tình trạng giải quyết các vụ án hình sự thường xuyên bị kéo dài đã chỉ ra những lỗ hổng của BLTTHS trong việc quy định về thời hạn tố tụng. Tồn tại trong Bộ luật hiện hành 36 điều quy định thời hạn có tính định tính (như: Gửi ngay, thông báo ngay, trả tự do ngay…). Một số thời hạn không quy định hoặc quy định chưa hợp lý, vừa gây khó khăn, vừa làm tăng sự tùy nghi của các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Quy định về thủ tục rút gọn quá chú trọng rút ngắn về thời hạn mà chưa chú trọng rút gọn về thủ tục, dẫn đến hiệu quả áp dụng thấp trong thực tiễn.

Khắc phục những bất cập nêu trên, cần rà soát, bổ sung các quy định nhằm bảo đảm mọi hoạt động tố tụng đều phải bị ràng buộc về thời hạn và chỉ được thực hiện trong thời hạn luật định. Theo đó, bổ sung thời hạn cho tất cả các biện pháp cưỡng chế tố tụng (bao gồm biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền), thời hạn khiếu nại lần hai và một số thời hạn khác. Cụ thể hóa các thời hạn có tính định tính trong Bộ luật hiện hành bằng các thời hạn cụ thể nhằm tránh sự tùy tiện, lạm dụng trong thực tiễn. Rút ngắn thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam với các loại tội. Quy định chặt chẽ hơn về căn cứ, thời hạn và số lần trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Tăng thời hạn cho một số hoạt động tố tụng nhằm bảo đảm tính khả thi và tránh gây áp lực với các cơ quan tố tụng, như: Tăng một cách hợp lý thời hạn xác minh tố giác, tin báo; thời hạn giao quyết định, tài liệu tố tụng đối với những vụ án có đông bị can. Đổi mới thủ tục rút gọn theo hướng quy định bắt buộc áp dụng thủ tục này khi đủ điều kiện luật định thay cho tùy nghi áp dụng như hiện nay; mở rộng việc áp dụng thủ tục rút gọn với cả tội nghiêm trọng chứ không chỉ với tội ít nghiêm trọng, đến cả giai đoạn xét xử phúc thẩm chứ không chỉ đến giai đoạn xét xử sơ thẩm như hiện hành; lược bớt một số thủ tục tố tụng cụ thể cho phù hợp với tính chất của thủ tục rút gọn và đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án. Quy định thời gian tối đa được phép lấy lời khai, hỏi cung người chưa thành niên không quá hai giờ trong một lần và không quá hai lần trong một ngày; quy định chặt chẽ căn cứ và thời hạn tạm giam người chưa thành niên. Những đổi mới này sẽ góp phần quan trọng thực hiện tốt nguyên tắc kịp thời, chính xác, tiết kiệm, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp.

9. Điều chỉnh khung kết cấu của Bộ luật Tố tụng hình sự để phù hợp với sự phân chia các giai đoạn tố tụng; đổi mới thủ tục giám đốc thẩm, khẳng định và bảo đảm giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự, không phải là một cấp xét xử

Khoa học pháp lý chia quá trình tố tụng hình sự thành năm giai đoạn: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ riêng và gắn với trách nhiệm của từng chủ thể tiến hành tố tụng. Từng giai đoạn có các thời hạn tố tụng cụ thể và được “mở”, “đóng” bằng các loại quyết định, văn bản tố tụng riêng biệt (ví dụ: Quyết định khởi tố vụ án; kết luận điều tra; cáo trạng; bản án…). Việc xác định mạch lạc các giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng cả ở góc độ xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật. Tạo cơ sở khoa học cho việc quy định cụ thể nội dung hoạt động, địa vị pháp lý của các chủ thể ở từng giai đoạn. Đồng thời, điều này còn liên quan chặt chẽ đến việc tổ chức bộ máy đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Nhằm bảo đảm tính khoa học của BLTTHS, sửa đổi Bộ luật lần này cần điều chỉnh khung kết cấu theo hướng tách khởi tố, điều tra, truy tố thành các phần độc lập; ghép xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm trong một phần chung của Bộ luật. Việc bố cục thủ tục xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm chung trong một phần còn có ý nghĩa quan trọng để thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp về bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử. Ngoài ra, trong mỗi giai đoạn, các kết cấu cũng thay đổi theo nguyên tắc trình tự thời gian.

Giám đốc thẩm không phải là một giai đoạn tố tụng mà là thủ tục đặc biệt nhằm xem xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình xử lý vụ án. Đối tượng của giám đốc thẩm là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên pháp luật nước ta cũng như các nước đều quy định rất chặt chẽ căn cứ, điều kiện dẫn đến mở thủ tục này. Theo đó, chỉ khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì bản án, quyết định mới bị đưa ra xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Quy định này là cần thiết, nhằm hạn chế việc kháng nghị tràn lan.

Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự ở nước ta cho thấy, giám đốc thẩm vẫn đang có nguy cơ trở thành thủ tục thông thường (cấp xét xử thứ ba). Số lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm ngày một tăng, gây áp lực đối với các cơ quan tư pháp, thậm chí, sức ép của các đơn đề nghị giám đốc thẩm đã đẩy các cơ quan tố tụng cấp trung ương vào giải quyết các vụ việc có tính sự vụ. Giải quyết vấn đề này, cần quy định chặt chẽ và chính xác căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm. Theo đó, thay vì bốn căn cứ kháng nghị như hiện hành, chỉ nên quy định kháng nghị giám đốc thẩm khi thuộc một trong hai trường hợp sau: Một là, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến làm sai lệch vụ án; hai là, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Cần đặc biệt nhấn mạnh vấn đề có tính tiên quyết để hạn chế giám đốc thẩm chính là phải áp dụng đồng bộ các biện pháp để nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm. Có như vậy mới bảo đảm hiệu lực thực tế của nguyên tắc hai cấp xét xử.

10. Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quá trình giải quyết vụ án hình sự

Kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước là yêu cầu tất yếu, khách quan nhằm bảo đảm cho quyền lực được thực hiện đúng đắn và có hiệu quả, ngăn chặn biểu hiện tha hóa quyền lực, là điều kiện cần thiết để thiết lập kỷ cương, kỷ luật, pháp chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thiếu kiểm tra, giám sát, kiểm soát sẽ xuất hiện sự lạm dụng quyền lực, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, người chủ đích thực của quyền lực nhà nước. Đảng ta đã nhận thức và khẳng định đầy đủ nội dung này trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện của Đảng(5). Hiến pháp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua đã thể chế hóa sâu sắc chủ trương quan trọng này: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 2). Từ nguyên tắc nền tảng nêu trên, việc kiểm soát quyền lực nhà nước đã được thực hiện xuyên suốt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động tư pháp càng trở nên cần thiết và đặc biệt quan trọng bởi lẽ đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến những quyền cơ bản nhất của con người, của công dân, đến trật tự, kỷ cương xã hội.

Cụ thể hóa yêu cầu quan trọng này của Hiến pháp, cần sửa đổi theo hướng bảo đảm mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đều phải được kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ bởi nhiều cơ chế, bao gồm cả cơ chế tự kiểm tra bên trong mỗi hệ thống và cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống. Kiện toàn các cơ chế nhằm giám sát chặt chẽ hoạt động điều tra, tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra của Cơ quan điều tra cấp trên với Cơ quan điều tra cấp dưới. Bổ sung các quy định để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng hiến định kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát với tư cách là một thiết chế thực thi Hiến pháp, pháp luật và bảo vệ việc thực thi Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất, có trách nhiệm nắm bắt đầy đủ, kịp thời mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (kiểm soát đầu vào) và kiểm sát chặt chẽ toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tố tụng. Sửa đổi, bổ sung các quy định để tăng cường hiệu lực, hiệu quả cơ chế giám đốc, kiểm tra của Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới nhằm phát hiện kịp thời những sai sót trong bản án, quyết định của Tòa án các cấp. Sửa các quy định để bảo đảm sự kiểm soát giữa các khâu trong tiến trình tố tụng, khâu sau có trách nhiệm giám sát kết quả của khâu trước, loại bỏ chứng cứ do khâu trước thu thập bằng những biện pháp trái luật. Quy định cụ thể, minh bạch các thủ tục, bổ sung trách nhiệm và hình thức công khai các quyết định tố tụng nhằm tạo điều kiện để người dân dễ tiếp cận công lý và tăng khả năng giám sát của xã hội đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Sửa đổi, bổ sung BLTTHS là công việc hệ trọng, đòi hỏi phải vượt qua cả những định kiến cũng như những toan tính phân quyền, với trọng trách lớn lao và thái độ công tâm, cầu thị vì cuộc sống bình yên của nhân dân. Mười vấn đề nêu trên là những định hướng sửa đổi chính yếu, ngoài ra còn nhiều nội dung cụ thể khác cũng không kém phần quan trọng. Những nội dung sửa đổi này sẽ tạo cơ sở để góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.

Nguyễn Hòa Bình

Nguồn: TCKS số Tân Xuân năm 2015