Thuật ngữ “nhiệm vụ” theo “Từ điển Tiếng Việt”do Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2003 (Từ điển Tiếng Việt) được hiểu là “công việc phải làm vì một mục đích và trong thời gian nhất định”. Nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định. Do đó, nhiệm vụ của KSV là những hoạt động cụ thể của KSV trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng, công việc của mình trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật.

          Như vậy, nhiệm vụ của KSV trong giải quyết vụ án hành chính là “những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối với KSV trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hành chính (từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án) nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật”.

          Thuật ngữ “quyền hạn” theo Từ điển Tiếng Việt được hiểu là “quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ”. Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo luật định. Quyền hạn của KSV là quyền cho phép KSV được thực hiện công việc trong giới hạn chuyên môn, chức vụ, vị trí công tác theo quy định của pháp luật.

          Như vậy, quyền hạn của KSV trong giải quyết vụ án hành chính là “quyền giải quyết những công việc cụ thể của KSVtrong các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hành chính (từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án) nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật”.

          Trong hoạt động tố tụng nói chung và trong tố tụng hành chính nói riêng, pháp luật luôn quy định nhiệm vụ đi đôi với quyền hạn, tạo thành mối liên kết vững chắc làm căn cứ để KSV thực hiện chức năng, công việc. Nhiệm vụ, quyền hạn của KSV trong giải quyết vụ án hành chính được quy định tại Điều 27 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và được cụ thể hóa tại Điều 43 Luật TTHC năm 2015.

          So với Luật TTHC năm 2010, Luật TTHC năm 2015 đã quy định cụ thể hơn, đồng thời bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn mới cho KSV như “xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ”,“tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”,“yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định”… Điều này giúp KSV chủ động hơn trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi, quyết định tố tụng của mình đối với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính.

Nguyễn Văn Thanh - Trưởng phòng 10 Viện KSND tỉnh Bắc Ninh