Để tiếp tục hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, chúng tôi xin tham gia một số ý kiến sau đây:

 

Tin bài liên quan: Hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp

 Quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp tại Điều 112 Dự thảo cơ bản đã phản ánh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của VKSND. Tuy vậy, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương II, Kết luận Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “những vấn đề về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cần quy định rõ trong Hiến pháp” thì cũng còn một số nhiệm vụ chưa được quy định. Theo Luật tổ chức VKSND năm 2002, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2003, Luật tương trợ tư pháp và một số đạo luật khác, VKSND được giao thực hiện những nhiệm vụ như: làm đầu mối tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; thống kê tội phạm liên ngành v.v… Những nhiệm vụ này không thuộc phạm vi chức năng thực hành quyền công tố, cũng không thuộc chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng do Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án), có điều kiện tốt nhất để thực hiện các nhiệm vụ này nên Quốc hội quyết định giao cho Viện kiểm sát thực hiện. Nhằm thể chế hóa đầy đủ yêu cầu của Nghị quyết trung ương II, Kết luận Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI và phù hợp với các nhiệm vụ VKSND đang được Quốc hội giao đảm nhiệm, đề nghị sửa đổi Điều 112 Dự thảo như sau: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện những nhiệm vụ khác do luật định”. Việc bổ sung quy định nêu trên chính là nhằm bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội ban hành liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND, đồng thời, tránh những nhận thức thiếu thống nhất trong quá trình xây dựng các dự án luật thuộc lĩnh vực tư pháp thời gian tới.

Qua thảo luận lần đầu tại Quốc hội về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, một trong những nội dung quan trọng dành được sự quan tâm của các đại biểu đó là đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Nhiều đại biểu đề nghị xem xét giao lại chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung) để ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục thực hiện nhằm khắc phục những lỗ hổng trong các cơ chế kiểm tra, giám sát hiện nay ở Nhà nước ta. Đây cũng là kiến nghị của nhiều nhà khoa học, cán bộ hoạt động thực tiễn tại các hội thảo trong nước và quốc tế về Hiến pháp. Theo ý kiến các đại biểu Quốc hội, việc giao chức năng kiểm sát chung cho VKSND thực hiện hoàn toàn có cơ sở bởi lẽ VKSND là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao do Quốc hội bầu và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Nguyên tắc này là bảo đảm quan trọng để VKSND không bị phụ thuộc và không chịu áp lực của các cơ quan chính quyền địa phương, sự can thiệp trái pháp luật từ các cá nhân, tổ chức. Đồng thời, VKSND có bộ máy được tổ chức từ trung ương đến địa phương, với đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên được đào tạo cử nhân luật và nghiệp vụ kiểm sát, có bề dày kinh nghiệm kiểm sát hơn 50 năm, điều đó bảo đảm cho VKSND có điều kiện thuận lợi hơn bất cứ cơ quan nào trong thực hiện giám sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước. Đây là vấn đề hết sức quan trọng, cần được nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng nhằm thực hiện đầy đủ yêu cầu mà Cương lĩnh và Văn kiện Đại hội XI đề ra.

Ủy ban kiểm sát là thiết chế quan trọng thuộc cơ cấu của VKSND. Trải qua các thời kỳ, địa vị pháp lý cũng như mức độ ghi nhận trong Hiến pháp về thiết chế Ủy ban kiểm sát được thể hiện khác nhau. Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 không quy định về Ủy ban kiểm sát. Thời kỳ này, Ủy ban kiểm sát chỉ được quy định trong Luật tổ chức VKSND và được xác định là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng. Hiến pháp năm 1992 đặt yêu cầu phải bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành với nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của VKSND, trên cơ sở đó đã bổ sung quy định Ủy ban kiểm sát (tại Điều 138). Thay vì vai trò là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng, Ủy ban kiểm sát được quy định là cơ quan có thẩm quyền quyết định đối với một số vấn đề quan trọng do luật định. Tổng kết thực tiễn thi hành Hiến pháp năm 1992 cho thấy, quy định về Ủy ban kiểm sát là phù hợp, phát huy trí tuệ và trách nhiệm của tập thể Ủy ban kiểm sát, đồng thời không mâu thuẫn với nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành. Trường hợp Viện trưởng VKSND cấp tỉnh không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì có quyền báo cáo Viện trưởng VKSND tối cao; trường hợp Viện trưởng VKSND tối cao không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì có quyền báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Dự thảo Hiến pháp sửa theo hướng bỏ các quy định liên quan đến Ủy ban kiểm sát, chỉ ghi nhận nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành. Quy định như Dự thảo thực chất đã tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Viện trưởng, đưa Ủy ban kiểm sát trở lại vị trí tư vấn cho Viện trưởng như Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. Điều này không phù hợp với tổng kết thực tiễn 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992. Vì vậy, đề nghị giữ quy định về Ủy ban kiểm sát như Hiến pháp hiện hành: Việc thành lập Ủy ban kiểm sát, những vấn đề Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định, những vấn đề quan trọng mà Ủy ban kiểm sát phải thảo luận và quyết định theo đa số do luật định.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các chức danh tư pháp thuộc VKSND không chỉ có kiểm sát viên mà còn gồm cả điều tra viên. Quá trình cải cách tư pháp hiện nay đặt yêu cầu nghiên cứu mở rộng diện các chức danh tư pháp ở mỗi cơ quan tố tụng nhằm đáp ứng yêu cầu phân công lao động hợp lý trong hoạt động tư pháp. Đối với những hoạt động tố tụng đơn giản (như lập biên bản tố tụng, ghi lời khai…) có thể giao cho cán bộ điều tra, kiểm tra viên đảm nhiệm mà không nhất thiết phải do điều tra viên, kiểm sát viên tiến hành mới có giá trị pháp lý như hiện nay. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy đều đặt ra nhiều chức danh tư pháp trong mỗi cơ quan tố tụng nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án. Để phù hợp với pháp luật hiện hành và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đề nghị bổ sung khoản 3 Điều 114 Dự thảo như sau: “Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của kiểm sát viên, điều tra viên và các chức danh tư pháp khác thuộc VKSND do luật định”.

Một thiết chế khác liên quan chặt chẽ đến yêu cầu bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của bộ máy nhà nước ta, được nhân dân và đại biểu Quốc hội đề cập thời gian qua đó là “đã đến lúc phải thay đổi cách đánh, thay đổi người đánh đối với tội phạm tham nhũng, thành lập cơ quan độc lập chuyên trách điều tra án tham nhũng”[1]. Thực tiễn điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng thời gian qua cho thấy, số lượng vụ án tham nhũng được phát hiện, điều tra chưa tương xứng với thực trạng tham nhũng xảy ra. Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành, nhất là trong các lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý ngân sách; thu thuế, phí; quản lý, sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng… đang là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự kiên nhẫn của nhân dân. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết quả điều tra, xử lý tội phạm tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu được các đại biểu Quốc hội chỉ ra đó là do chúng ta chưa có cơ quan điều tra án tham nhũng đủ mạnh, hoạt động độc lập. Tham khảo kinh nghiệm các nước thấy rằng, trong quá trình quản lý của mình, các nước đặc biệt chú trọng hoàn thiện các cơ chế để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, trong đó có việc tổ chức cơ quan độc lập chuyên trách điều tra tội phạm tham nhũng. Trung Quốc là quốc gia có điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội tương đồng với Việt Nam song từ rất lâu đã tổ chức cơ quan chuyên trách điều tra án tham nhũng trực thuộc Viện kiểm sát và hiện đang hoạt động rất hiệu quả. Nhiều quốc gia khác như Vương quốc Anh, Singapore, Nam Phi, Australia, Newzealand… đều có cơ quan độc lập điều tra tội phạm tham nhũng. Nam Phi đặt cơ quan này dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống và được phép áp dụng một số biện pháp điều tra đặc biệt. Singapore ghi nhận sự độc lập của cơ quan chuyên trách điều tra án tham nhũng ở văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp và mặc dù về tổ chức bộ máy đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng, song việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các thành viên cơ quan điều tra này thuộc thẩm quyền của Tổng thống… Thiết nghĩ, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với việc sửa đổi Hiến pháp lần này là cần tổng kết, đánh giá sâu sắc, toàn diện các thiết chế phòng, chống tham nhũng ở nước ta, trên cơ sở đó đề xuất mô hình cơ quan điều tra án nhũng hoạt động khách quan, hiệu quả, đáp ứng sự mong mỏi của nhân dân. Hệ thống tổ chức, cách làm và hiệu quả phòng, chống tham nhũng ở các quốc gia nêu trên có thể là thông tin tham khảo bổ ích đối với chúng ta.


 

PGS.TS. Trần Đình Nhã,

Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội

(Nguồn Thông tin khoa học Kiểm sát số 1 + 2 năm 2013