Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013 đã chỉ rõ: Từ năm 2013, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải báo cáo, đánh giá đầy đủ tình hình vi phạm pháp luật trong các hoạt động tư pháp… Thực hiện Nghị quyết 37 nêu trên, ngày 19/3/2013, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị trực tuyến để tập huấn thực hiện Hướng dẫn số 02/HD-VKSTC-VP về công tác quản lý, báo cáo tình hình chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp.

Muốn làm tốt nhiệm vụ đó thì Kiểm sát viên phải rèn luyện kỹ năng phát hiện được vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử của Tòa án. Xin đơn cử qua vụ án sau:

Vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Hồng, bà Nguyễn Phương Uyên và bị đơn là Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Minh Hạnh do Tòa án nhân dân quận Tân phú xét xử sơ thẩm được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý số 846/DSPT ngày 09/11/2011 để giải quyết theo trình tự phúc thẩm (do có kháng cáo của nguyên đơn). Cụ thể như sau.

* Thứ nhất, việc ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành 02 quyết định đưa vụ án ra xét xử.

1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1178/2011/QĐ-PT ngày 30/11/2012 do Thẩm phán Lưu Ngọc Thạch ký ghi: Thời gian mở phiên tòa: 08h giờ 00 phút ngày 18/4/2012. Người tiến hành tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Thạch, các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Trí, ông Nguyễn Chí Sang, Thư ký Tòa án ông Nguyễn Hữu Mai…”.

2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2012/QĐ-PT ngày 29/3/2012 do Thẩm phán Lưu Ngọc Thạch ký ghi: “Thời gian mở phiên tòa: 08 giờ 00 phút ngày 18/4/2012…”. Người tiến hành tố tụng: Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Thạch. Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Đức, Phạm Hồng Loan, Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Hữu Mai.

Tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) quy định: “Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng”. Nếu căn cứ vào thời hạn ghi trong quyết định thì Quyết định số 1178 nêu trên có vi phạm là: Ngày Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sau ngày Hội đồng xét xử mở phiên tòa 7 tháng 12 ngày. Mặt khác, nếu có sự nhầm lẫn về lỗi đánh máy (năm 2011 thành năm 2012) trong quyết định số 1178 nêu trên thì Quyết định trên cũng vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.

Thứ hai, về Quyết định hoãn phiên tòa: Hồ sơ thể hiện có ba lần Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Trong đó lần thứ ba có sự thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên tòa:

1. Quyết định hoãn phiên tòa số 621/2011/QĐ-HPT ngày 22/12/2011 Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Thạch, các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Trí, Nguyễn Chí Sang, thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông ra quyết định hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 846/DSPT ngày 09/11/2011. Lý do hoãn vì nguyên đơn bị bệnh có đơn xin hoãn phiên tòa đề ngày 22/12/2011. Thời gian mở lại phiên tòa vào 14h ngày 28/12/2011.

2. Quyết định hoãn phiên tòa số 640/2011/QĐ-HPT ngày 28/12/2011, thành phần Hội đồng xét xử gồm có Thẩm phán, Chủ tọa Lưu Ngọc Thạch, các Thẩm phán Bùi Văn Trí, Nguyễn Chí Sang, thư ký phiên tòa ông Đỗ Thế Đông. Lý do hoãn do nguyên đơn bị bệnh phải nằm viện, có đơn xin hoãn phiên tòa đề  ngày 28/12/2011. Thời gian và địa điểm mở lại phiên tòa thông báo sau.

3. Quyết định số 144/2012/QĐ-HPT ngày 18/4/2012, Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lưu Ngọc Thạch, các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Đức, Phạm Hồng Loan, Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai ra quyết định hoãn phiên tòa. Lý do hoãn vì Luật sư bên nguyên đơn vắng mặt. Thời gian mở lại phiên tòa vào 8h ngày 27/4/2012.

Thông qua Quyết định số 144 nêu trên cho thấy thành phần Hội đồng xét xử ở phiên tòa thứ ba có sự thay đổi hai Thẩm phán và Thư ký phiên tòa. Trong hai Quyết định đưa vụ án ra xét xử không có Thẩm phán dự khuyết nhưng Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không có Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng là vi phạm Điều 51 Bộ luật TTDS.

Thứ ba, việc ghi biên bản phiên tòa:

Biên bản phiên tòa ngày 18/4/2012, mục VI Nghị án có ghi: “Do thời gian nghị án kéo dài, chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử thông báo Hội đồng xét xử sẽ tuyên án vào lúc 09 giờ 00 ngày 07/5/2012”. Phần VII Tuyên án ghi: “Sau khi nghị án, Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử tuyên đọc toàn văn bản án mà Hội đồng xét xử đã thông qua tại phòng nghị án. Chủ tọa phiên tòa công bố kết thúc phiên tòa vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 07/5/2012”.

Biên bản phiên tòa có ghi những nội dung về thời gian tố tụng như trên. Nhưng trong Biên bản về việc thông báo ngày tuyên án lại thể hiện: “Hôm nay, vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 27/4/2012, tại phòng xử Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh… do thời gian nghị án kéo dài nên Hội đồng xét xử sẽ tuyên án vào lúc 9 giờ 00 ngày 07/5/2012…”.

Điều 274 Bộ luật TTDS quy định: “Việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án và tuyên án, sửa chữa bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục sơ thẩm”. Khoản 5 Điều 236 BL TTDS quy định: “Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 5 ngày làm việc từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa”. Đối chiếu với quy định trên và nếu căn cứ vào Biên bản thông báo ngày tuyên án thì Hội đồng xét xử không vi phạm thời gian nghị án, nhưng căn cứ vào Biên bản phiên tòa thì Hội đồng xét xử đã vi phạm thời gian nghị án.

Qua kết quả nghiên cứu phần tố tụng giải quyết một vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm nêu trên, tác giả hy vọng mỗi cán bộ, Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao không chỉ nắm vững các quy định của pháp luật mà còn phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm và kỹ năng phát hiện vi phạm, qua đó đề xuất hướng khắc phục. Đó là hành động thiết thực của mỗi cán bộ, Kiểm sát viên góp phần cùng toàn ngành thực hiện đồng bộ ở tất cả các lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 37/2012/QH13 và Hướng dẫn số 02/HD-VKSTC-VP của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.



Nguồn: tapchikiemsat.org.vn