Tín dụng đen (TDĐ) có hình thức khá đa dạng và tồn tại từ rất lâu ở Việt Nam, cũng như ở nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, TDĐ đã tạo ra điều kiện cho người dân hoặc doanh nghiệp có số tiền nào đó cho nhu cầu vay gấp (“vay nóng”) của mình với thủ tục hết sức đơn giản nhưng ẩn chứa rất nhiều rủi ro về kinh tế cho cả người vay lẫn người cho vay. TDĐ là cụm từ mà dân gian hay dùng để chỉ các dạng huy động và cho vay tín dụng không qua hệ thống ngân hàng, không đăng ký kinh doanh, cũng như không được cấp phép hoạt độngnó được thể hiện dưới rất nhiều hình thức như hụi, họ, cho vay, cầm đồ, thế chấp, vận chuyển tiền gửi...

 

Vừa qua, ở nước ta liên tiếp xảy ra những vụ vỡ nợ với con số "khủng” lên tới hàng nghìn tỷ đồng và đã bao gia đình phải điêu đứng bởi cơn lốc TDĐ này. Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng năm 2011 đã xảy ra trên 100 vụ liên quan đến các hoạt động TDĐ gây thiệt hại trên 4000 tỷ đồng. Ở hầu hết các địa phương, từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, đến Quảng Trị, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh… đều nổ ra các vụ vỡ nợ. Nguyên nhân vỡ nợ là do trong thời gian qua thị trường đang ở vào điểm rơi về đầu tư vì chứng khoán không còn hấp dẫn; thị trường bất động sản đi vào chu kỳ nguội lạnh không có giao dịch còn thị trường vàng thì luôn trong tình trạng bấp bênh về giá…Vì vậy đã khiến cho các nhà đầu tư không có giao dịch, bị lao đao. Trong khi đó lại đến thời hạn phải trả nợ  nên họ đã tìm cách đi vay các nguồn khác bên ngoài ( TDĐ) để trả và hy vọng sẽ sớm bán được bất động sản, nhưng không ngờ thị trường bất động sản lại bị đóng cửa “ngủ” quá dài, chưa thể thoát ra khỏi tình trạng đóng băng nên họ không có cách gì để trả, từ đó dẫn đến vỡ nợ hàng loạt như vậy.


Bằng thủ đoạn khoe khoang đủ các mối làm ăn và đầu tư lớn nên những người đi vay tiền đã dễ dàng lừa đảo được hàng chục, hàng trăm tỷ đồng của nhiều người nhẹ dạ, cả tin rồi sau đó bỏ trốn. Có người đã gom tiền của những người thân trong gia đình và của nhiều người dân khác trong vùng để cho vay lấy lãi, thậm chí, có nhiều người do quá tin tưởng nên đãthế chấp nhiều sổ đỏ để đi vay tiền ngân hàng về cho vay lại ăn lãi suất chênh lệch; đến khi xảy ra vụ việc vỡ nợ, họ đã phải bán cả nhà, cả đất để trả tiền cho họ hàng, làng xóm mà vẫn không đủ, còn mình thì cứ lẽo đẽo đi tìm chủ nợ đòi nợ. Điển hình như một số vụ vỡ nợ sau:

Vụ trùm lừa đảo Huỳnh Thị Huyền Như (nguyên cán bộ ngân hàng Vietinbank) và Võ Anh Tuấn (nguyên phó giám đốc VietinBank Nhà Bè) tại TP Hồ Chí Minh đã bị vỡ nợ lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Vụ vỡ nợ của vợ chồng Tạ Việt Quang và Bùi Thị Quyên (Thị trấn Phùng, Đan Phượng, Hà Nội) khiến không ít người choáng váng; đã có 28 nạn nhân của cặp vợ chồng gắn mác doanh nhân thành đạt này với số tiền vỡ nợ trên 100 tỷ đồng. Vụ Nguyễn Thị Cúc, ở huyện Phú Xuyên, Hà Nội vỡ nợ 121 tỷ và 402 cây vàng...  Phạm Thị Chinh ở Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội bỏ trốn trong đêm, để lại món nợ trên 53 tỷ đồng, 99,5 cây vàng, 151.400 USD, 3.000euro. Tính riêng  địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, vừa qua đã có 102 trường hợp vỡ nợ với số tiền lên đến gần 1800 tỷ đồng;  có 10 trường hợp đến tự thú và xin tạm giam để bảo đảm an toàn tính mạng, trong đó có 5 cán bộ Ngân hàng. Cơ quan chức năng đã khởi tố 16 bị can ( bắt tạm giam 14 bị can). v.v. 

Qua phân tích các vụ án cho thấy: Các vụ đổ vỡ tín dụng đen đều có tích chất dây chuyền, hậu quả của nó rất nghiêm trọng, kéo theo rất nhiều người bị thiệt hại, có nhiều trường hợp vừa là bị hại nhưng lại đồng thời là người gây lên thiệt hại cho nhiều người khác. Tiền và tài sản bị chiếm đoạt với số lượng lớn không chỉ của nhiều cá nhân, tổ chức xã hội mà cả một số ngân hàng, quỹ tín dụng hợp pháp của nhà nước. Ngoài ra khi con nợ bỏ trốn, hoặc mất khả năng trả nợ thì kéo theo hậu quả về mặt xã hội cũng rất lớn và phức tạp, nhiều hành vi vi phạm pháp luật trong giải quyết nợ nần như: khủng bố tinh thần, cố ý gây thương tích, bắt giữ người trái pháp luật, sử dụng các băng nhóm xã hội đen nhằm đòi nợ thuê, thậm chí giết chết con nợ.v.v.

Đặc điểm cơ bản của TDĐ là cho vay với lãi suất rất cao, thông thường cao hơn so với lãi suất ngân hàng từ 3-4 lần, nhưng cá biệt có những trường hợp cao gấp 8-10 lần. Hụi trong TDĐ gồm có hụi ngày, hụi tháng, hụi quý, hụi năm... và được vay dưới các hình thức: vay nóng (trong vòng từ 3 - 10 ngày) và vay nguội (tính bằng tháng); với mức lãi xuất không cố định và bất thành văn, thông thường là: vay nguội từ 5-7%/tháng; còn vay nóng thì lãi suất vay dao động từ 3-10000đ/1triệu/ngày. Vì vậy, hậu quả của TDĐ là rất lớn, những vụ vỡ nợ đã trực tiếp gây thiệt hại tới những người rơi vào vòng xoáy của việc huy động tiền, gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế cho rất nhiều gia đình; làm ảnh hưởng đến quan hệ anh em, họ hàng vì đa số những người đi vay đã vay tiền của những người thân quen. Và làm phát sinh nhiều  loại tội phạm như: lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật, cưỡng đoạt tài sản.v.v.

Qua nghiên cứu các vụ vỡ nợ, có thể xác định bản chất, thủ đoạn của TDĐ đó là:  Những người đi huy động vay tiền thường đánh vào lòng tham của người có tiền, có tiền rồi nhưng  cứ muốn kiếm tiền nhiều hơn nữa bằng cách đơn giản và trong thời gian ngắn, đó là tham tiền từ lãi suất cao. Trong khi đó,  người đi vay tiền thường tỏ ra rất giàu có, hào phóng, vung tiền chơi đẹp, và bề nhìn ngoài rất “xịn”,  họ cố tình phô trương thanh thế bằng những chiêu khuyến mãi, từ thiện và khoe khoang là quen biết với một số người có tên tuổi…khiến người có tiền bị choáng ngợp và bị thôi miên trước “chiếc nồi Thạch sanh” tiền của vô tận và tài năng xuất chúng. Nên mặc dù không có sự giám sát chặt chẽ hoặc không có thông tin đầy đủ về người đi vay tiền nhưng vẫn cứ đặt hết niềm tin vào họ, do vậy đã bị rơi vào vòng xoáy của việc huy động tiền lúc nào mà không hay biết, và kết quả là đã bị lừa. Trong cuộc chơi trả lãi suất cao này, đối tượng lấy tiền của “người đến sau” trả lãi cao cho “người đến trước”; tín hiệu đặc trưng cho những lừa đảo trong TDĐ thường là lãi suất cao, trả lãi đều, giữ uy tín trong thời gian đầu, tìm mọi cách che đậy mục đích vay tiền và cách trả lãi cao, nhằm cố gắng thu hút sự tham gia của càng nhiều người càng tốt; đến khi lượng tiền đi vay đã hết  thì đối tượng  bắt đầu tuyên bố phá sản; đó gọi là “bẫy lãi xuất cao” trong TDĐ.

Nguyên nhân tồn tại hình thức tín dụng đen:

Một là, do sự can thiệp của Nhà nước chưa hiệu quảluật pháp vẫn còn nhiều kẽ hở, việc xử lý vẫn chưa nghiêm nên không đủ sức ngăn chặn, răn đe. Hai là, quan hệ cung - cầu bị lệch; khi nền kinh tế khủng hoảng, bà con nông dân khó khăn, mất mùa, lương chỉ giải quyết được 65% nhu cầu  thì nhu cầu vay mượn tất yếu xuất hiện. Cả nước có khoảng 600.000 doanh nghiệp siêu nhỏ,  tiếp đến là doanh nghiệp vừa và nhỏ, rồi đến doanh nghiệp lớn có hiệu suất đầu tư thấp nên không đủ chuẩn để vay ở ngân hàng, cũng dẫn đến vay TDĐ.

Hai là, một lượng lớn người đi vay rồi để cho người khác vay lại ăn chênh lệch và làm ăn phi pháp khác… Một lượng tiền khổng lồ lẽ ra chạy vào ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh, thì lại bị đổ vào chơi hụi, buôn lậu, ăn chơi, cờ bạc, đá gà... Vì vậy, nhiều người cho vay, trong đó có công ty chứng khoán, ngân hàng, doanh nghiệp, người dân bị điêu đứng, trong khi những người đi vay thì vỡ nợ, đi tù hàng loạt.

Ngoài ra, trong thời gian qua, có khoảng 97% nhu cầu của nền kinh tế chỉ tập trung vào ngân hàng, thành ra ngân hàng chịu gánh nhu cầu quá lớn, không thể đáp ứng nhu cầu về vốn cho cá nhân, cho doanh nghiệp nên họ phải tìm đến TDĐ.

Dự báo trong những năm tiếp theo, thành phần tham gia TDĐ đang có chiều hướng mở rộng nhanh chóng, bao quát ngày càng rộng trong tất cả các tầng lớp nhân dân, các giới và tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Với mức lãi suất hoàn toàn “thuận mua vừa bán” có thể lên tới trên 400% / năm và ngoài ra còn kèm theo những mặt hàng khuyến mại có giá trị; nên sẽ còn tiếp tục rộ lên những vụ vỡ TDĐ với quy mô ngày càng lớn, từ vài trăm tỷ tới hàng ngàn tỷ đồng, gây tác hại rất lớn cho nền kinh tế đất nước.

Về khía cạnh pháp luật, hiện nay Điều 163 Bộ luật hình sự quy định hành vi cho vay lãi nặng với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột thì mới cấu thành tội phạm. Trong khi đó, tất cả mọi  giao dịch trong TDĐ đều là những giao dịch ngầm và nội bộ với nhau, không ồn ào,không qua tổ chức nào và không thể hiện rõ mức lãi suất là bao nhiêu; cả người đi vay lẫn người cho vay đều muốn giấu kín; chỉ đến khi vỡ nợ, người bị hại có đơn trình báo thì cơ quan chức năng mới biết được. Nếu như người đi vay không có hành vi gian dối hoặc trốn tránh trách nhiệm trả nợ  thì việc chứng minh hành vi đó là giao dịch dân sự hay hình sự, nhất là việc chứng minh như thế nào là “ có tính chuyên bóc lột” gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc; từ đó cơ quan chức năng rất khó xử lý bằng pháp luật; dẫn đến tính răn đe, phòng ngừa không cao. Vì vậy cần phải có sự nghiên cứu sửa đổi và bổ sung thêm những quy định, chế tài xử lý cụ thể, nghiêm minh và rõ ràng hơn. 

Về phía người dân, cần phải tỉnh táo, không nên tin chắc và đắm đuối chạy theo những khoản lãi suất cho vay cao bất thường dù với bất kỳ lý do nào. Bởi vì: bất cứ dạng hoạt động kinh tế nào mang lại hay hứa hẹn mang lại món lợi nhuận cao bất thường, đều luôn chứa đựng những rủi ro tiềm tàng và không thể kéo dài, bền vững được. Lãi suất cao là mồi câu vốn vô cùng hấp dẫn và nơi nào có lãi suất cao thì chính nơi đó có nhiều rủi ro cao; “Nguyên tắc vàng trong thị trường tài chính- tiền tệ là lãi suất chính là chỉ báo về tình trạng tài chính của người đi vay nợ, lãi suất cao một cách lạ thường rõ ràng là bất thường, ít nhất là tình hình tài chính của người đi vay ở vào trạng thái gay cấn, mất cân đối nghiêm trọng và sau đó có thể kéo theo là sự lừa đảo dây chuyền. Ví lãi suất trong TDĐ như miếng phomat nên phương ngôn có câu cảnh tỉnh khôn ngoan mà không bao giờ lạc hậu: “Miếng phomat dễ kiếm nhất và không mất tiền thì chỉ có ở trong chiếc bẫy chuột mà thôi”.


Nguồn: tapchikiemsat.org.vn