A


Trên trang Website của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có nhận được câu hỏi của bạn Nguyễn Ngọc Nam  hỏi: Bạn em vừa bị Công an bắt về tội hùng một số tiền nhỏ là 13 triêu đồng để buôn bán trái phép chất ma túy và số lượng ma túy đó có trị giá số tiền là 136 triệu đồng vậy cho em hỏi bạn em phải chịu trách nhiệm hình sự và phạt tù bao nhiêu năm vậy ?.


Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trao đổi như sau:


Đối với các tội phạm về ma túy thì  không căn cứ vào số tiền mà người đó bỏ ra để mua ma túy hay số lượng ma túy có giá trị là bao nhiêu tiền, mà căn cứ vào các loại ma túy được quy định trong BLHS, khối lượng chất ma túy theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, số lượng … nếu có đủ căn cứ theo quy định thì đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm. Riêng quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thì không phụ thuộc vào khối lượng chất ma túy mà chỉ cần người đó có hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác hoặc dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép … thì đều phải chịu trách hiệm hình sự. Ngoài ra còn phải xem xét cả vấn đề nhân thân người phạm tội có tiền án, tiền sự hay không và về tội danh gì, mức hình phạt ….


Do câu hỏi của bạn không nêu cụ thể về khối lượng cũng như chất ma túy mà bạn của bạn bị bắt giữ nên chúng tôi không có căn cứ trả lời cụ thể bạn được.


Còn việc bạn của bạn có hành vi góp tiền hay hùn tiền để mua ma túy với mục đích để bán trái phép thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 BLHS, chúng tôi viện dẫn tội danh trên để bạn tham khảo.


1. Người nào mua, bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.


2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:


a) Có tổ chức;


b) Phạm tội 02 lần trở lên;


c) Đối với 02 người trở lên;


d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;


e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;


g) Qua biên giới;


h) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao coca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;


i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;


k) Lá cây coca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;


l) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;


m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;


n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;


o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;


p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;


q) Tái phạm nguy hiểm.


3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:


a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao coca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;


b) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphettamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;


c) Lá cây coca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;


d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;


đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;


e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;


g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;


h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.


4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:


a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao coca có khối lượng từ 05 kilôgam trở lên;


b) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphettamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;


c) Lá cây coca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;


d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;


đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;


e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;


g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích  750 mililít trở lên;


h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.


5. Người phạm tội còn có thể bị hạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.


 


 


 


 


 


A


Trên trang Website của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có nhận được câu hỏi của bạn đọc có tên Nguyễn Ngọc Tường Vy (không nêu địa chỉ cụ thể) hỏi: “Đã có tiền án hình sự về tội cho giật tài sản 2 lần giờ vẫn tái phạm đi bao nhiêu năm vậy ạ ?”


Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trao đổi  như sau:


Thứ nhất: Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 không quy định tội danh nào là tội “Cho giật tài sản” mà chỉ có tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.


Thứ hai: Thông tin bạn nêu ra không rõ về tội danh, không nêu cụ thể và đầy đủ các thông tin theo quy định nên chúng tôi chưa có căn cứ để trả lời cụ thể bạn được.


Để có căn cứ trả lời bạn, chúng tôi hướng dẫn bạn như sau:


- Bạn cần phải nêu rõ tiền án về tội gì (2 lần bị kết án về một tội đó hay là 1 lần bị kết án về tội đó nhưng người đó 2 lần thực hiện hành vi phạm); thời gian Tòa án có thẩm quyền xét xử, mức hình phạt, thời gian chấp hành xong hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung (nếu có) ?.


- Giờ lại tái phạm thì tái phạm tội gì (tội mà người đó đã từng bị kết án hay tội danh nào khác được quy định trong BLHS), thời gian thực hiện hành vi phạm tội, khi phạm tội người đó có dùng thủ đoạn nguy hiểm, có hành hung để tẩu thoát, có gây thương tích cho người khác, giá trị tài sản chiếm đoạt (nếu thuộc loại tội về chiếm đoạt) ….


          Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh xin trao đổi để bạn Vy được biết. Cảm ơn bạn đã quan tâm và rất mong bạn có câu hỏi cụ thể để trao đổi trên trang Website của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.


A

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh trả lời câu hỏi của đọc giả có tên Ngô Minh Thơm như sau:


- Thứ nhất, ông và vợ chồng bà Nguyen Thi Ngoc Hoa, ông Nguyen Quoc Hung cần thương lượng, thỏa thuận để đạt được yêu cầu mong muốn của các bên. Ông có thể hỏi rõ bà Hoa, ông Hung mục đích về việc mượn doanh thu của cửa hàng ông để làm gì, từ đó ông xác định có cho mượn hay không mượn doanh thu cửa hàng.


- Thứ hai, nếu ông và vợ chồng bà Nguyen Thi Ngoc Hoa, ông Nguyen Quoc Hung không thể thương lượng được thì ông có quyền nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nơi bà Nguyen Thi Ngoc Hoa, ông Nguyen Quoc Hung cư trú hoặc nơi Tòa án hai bên ký kết hợp đồng để yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp hợp đồng thuê nhà.




A


Sau khi nghiên cứu nội dung câu hỏi của chị, chúng tôi xin trao đổi và trả lời như sau:


Thứ nhất: Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:


1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:


a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tai các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;


b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500gam;


c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;


d) Lá cây cô ca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;


đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;


e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;


g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;


h) các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;


i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất mat túy quy định tại một trong trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.


Theo chị Khuyên thì chồng chị bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và bị bắt về tội tàng trữ chất ma túy dưới 01 gam. Đối chiếu với những quy định nêu trên không thể hiện việc chồng chị bị xử lý hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, còn các chất ma túy quy định tại các điểm b,d,đ,e,g,h,i khoản 1 Điều 249 BLHS nêu trên thì đều có khối lượng từ 01 gam trở lên, vì vậy chồng chị không phạm vào một trong các hành vi quy định tại các điểm a,b,d,đ,e,g,h,i khoản 1 Điều 249 BLHS.


Chị Khuyên cho biết chồng chị bị bắt vì tàng trữ chất ma túy dưới 1 gam, nhưng chị không nêu rõ cụ thể về khối lượng cũng như loại ma túy mà chồng chị tàng trữ trái phép. Nếu như chồng chị có hành vi cất giữ trái phép một trong các chất ma túy có khối lượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS nêu trên mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thì  bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.


Thứ hai: Việc chồng chị bị bắt về tội chiếm đoạt tài sản và bị Tòa án kết án 18 tháng, mới ra được hơn một năm lại tiếp tục bị bắt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (dưới 1 gam), vấn đề chị hỏi là chồng chị sẽ bị phạt tù bao lâu?


Về vấn đề này chúng tôi xin trả lời như sau:


Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về Đương nhiên được xóa án tích:


1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách của án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.


2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:


a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;


b) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;


c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;


d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm …


Như vậy, chồng chị bị kết án 18 tháng về tội chiếm đoạt tài sản thì phải sau 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính mà không phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích (kèm theo các điều kiện là phải chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án), nhưng chồng chị mới chấp hành xong hình phạt được hơn một năm lại tiếp tục bị bắt về  hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích) và nếu hành vi của chồng chị thỏa mãn các quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS thì lần phạm tội này của chồng chị thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.


Do đó chồng chị sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS, khung hình phạt ở khoản này quy định mức hình phạt thấp nhất là 01 năm tù và cao nhất là đến 05 năm tù. Ngoài ra chồng chị còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” như đã nêu ở trên.


Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật, kết quả điều tra vụ án, việc thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, xem xét nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như thái độ khai báo của chồng chị, để ra phán quyết đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, thấu tình, đạt lý.


Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh xin trao đổi để chị Khuyên được biết. Cảm ơn chị đã quan tâm và rất mong chị thường xuyên có bài trao đổi trên trang Web của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.


                                  


A


Sau khi nghiên cứu nội dung đề nghị của độc giả, chúng tôi xin trao đổi và trả lời như sau:


Thứ nhất: Ngày 01/11/2017, bạn của độc giả đã sử dụng xe máy để thực hiện hành vi cướp giật tài sản là 01 chiếc túi bên trong có 1.000.000đ, 01 cặp vé số lô tô trắng (chưa ghi) gồm 10 tờ (vé mở thưởng ngày 01/11/2017) và 01 tờ vé đã trúng thưởng ngày 31/10/2017 và đã bị Cơ quan điều tra khởi tố bị can theo  khoản 2 Điều 136 BLHS.


Căn cứ quy định tại tiểu mục 5.3 mục 5 phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSTNTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999 thì: Hành vi dùng mô tô, xe máy để cướp giật tài sản của người khác mà hành vi đó gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại hoặc của người khác  là "dùng thủ đoạn nguy hiểm"… Như vậy, việc bạn của độc giả sử dụng xe máy để thực hiện hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên là thuộc trường hợp "Dùng thủ đoạn nguy hiểm" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với bạn của độc giả theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLHS về tội cướp giật tài sản là đúng quy định của pháp luật.


Thứ hai: Ngoài chiếc túi xách và tiền thì 01 cặp vé số và 01 tờ vé số trúng thưởng kia có được coi là tài sản hay không?


Nội dung này chúng tôi xin trả lời như sau:


-  Đối với 01 cặp vé số lô tô trắng (chưa ghi) gồm 10 tờ (vé mở thưởng ngày 01/11/2017). Theo quy định của Nhà nước thì đây không thuộc "giấy tờ có giá" nên không có giá trị thành tiền. Vì vậy bạn của độc giả không phải chịu trách nhiệm hình sự về cặp vé lô tô trắng nêu trên.


          - Đối với 01 vé đã trúng thưởng ngày 31/10/2017:


          Tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản;


Tại khoản 9 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm và đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã quy định: Giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiểu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.


          Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì 01 tờ vé số đã trúng thưởng ngày 31/10/2017 được xác định là tài sản (giấy tờ có giá). Vì vậy, bạn của độc giả phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng  trị giá tài sản chiếm đoạt bao gồm 01 túi xách, 1.000.000đ và 01 tờ vé số đã trúng thưởng được trị giá thành tiền.


Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh xin trao đổi để độc giả biết. Cảm ơn độc giả đã quan tâm và rất mong bạn thường xuyên có bài trao đổi trên trang Web của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.




Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp Phòng 7 Viện KSND tỉnh Bắc Ninh


A


Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đề nghị bạn hỏi rõ hơn nội dung: trong vụ án nào, nội dung cụ thể bản án tuyên trả lại đồ vật gì....để chúng tôi có đủ cơ sở trả lời rõ ràng cho bạn


A


Trên website của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có nhận được yêu cầu của độc giả Đặng Quốc Hùng đề nghị giải đáp tình huống pháp luật: “Năm 2015 tôi có đi Trung Quốc làm việc trái phép, bạn tôi vẫn biết đi không giấy tờ mà vẫn đến xin đi cùng rồi sau khi quay về kiện tôi tổ chức người vượt biên trái phép, thế bạn tôi có được xem là đồng phạm không. Thế nếu hình phạt cho cả hai sẽ thế nào.”


Tôi xin trao đổi và trả lời như sau:


Tại điều 274 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại Việt Nam trái phép”:  Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.


Theo quy định của điều luật này thì độc giả Đặng Quốc Hùng và bạn của độc giả chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nếu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Nếu chưa bị xử lý hành chính về hành vi xuất cảnh trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.


Tại điều 275 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “tội Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép”:


“1. Người nào tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điều 91 Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.


2. Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.


3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.”


Theo như độc giả đã nêu là: “Bạn tôi vẫn biết đi không giấy tờ mà vẫn đến xin đi cùng”. Như vậy, nếu độc giả không có hành vi tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài (trừ xuất cảnh trái phép) thì độc giả không phạm tội “Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép” theo điều 275 BLHS năm 1999.


Trên đây là nội dung trao đổi, trả lời thư của độc giả Đặng Quốc Hùng. Rất mong độc giả luôn quan tâm đến trang website của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.


A


Nội dung sự việc cháu nêu trên Viện KSND tỉnh Bắc Ninh trả lời cháu như sau: Để giải quyết vụ việc dứt điểm, cháu cần làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh để Tòa án thu thập, xác minh nếu xác định đúng của hàng Viettel đã sử dụng Chứng minh thư nhân dân của cháu để đăng ký cho người khác sử dụng 04 sim trả sau mà không có sự đồng ý của cháu thì Tòa án sẽ hủy các hợp đồng đó vì vô hiệu, sau đó thì cháu mới có quyền đang ký theo chứng minh nhân dân của cháu.


Chúc cháu thành công !


Phòng 9 - Viện KSND tỉnh Bắc Ninh


A


Ngày 18 tháng 11 năm 2016 trên trang web của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có nhận được thư của một độc giả dấu tên hỏi và nhờ VKSND tỉnh Bắc Ninh giải đáp thắc mắc về việc độc giả có em trai tên là Nguyễn văn Đ, ngày 27 tháng 9 năm 2016, Đ có mua hộ một người bạn tên là T (T là đối tượng nghiện hút ma túy) 200.000đ tiền ma túy, khi mua xong thì Đ bị công an bắt quả tang. Trong thư yêu cầu, độc giả hỏi T và Đ có phạm tội không, phạm tội gì, hình phạt như thế nào.Trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, tôi xin trao đổi và trả lời như sau:


Điều 194 Bộ luật hình sự quy định : "tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phep hoặc chiếm đoạt chất ma túy":


1.Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bẩy năm.


Tại điểm 3.1 phần II Thông tư liên tịch số 17 ngày 24/12/2007 của liên bộ: Bộ Công an- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Tòa án nhân dân tối cao- Bộ tư pháp Quy định : "tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào: (như trong nhà, ngoài vườn, cất giấu trong quần áo...) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này".


Tại điểm 3.6 phần II Thông tư liên tịch trên quy định: người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính:


a) Nhựa thuốc phiện, cần sa hoặc Caococa có trọng lượng dưới một gam;


b) Hê rô in hoặc Cô ca in có trọng lượng dưới không phẩy một gam;


c) Lá, hoa, quả cây cần xa hoặc lá cây Cô ca có trọng lượng dưới một ki lô gam;


d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm ki lô gam;


đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một ki lô gam;


e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;


g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mi li lit trở xuống.


Tại tiết đ điểm 3.7 phần II của thông tư này quy định: Người nào biết người khác mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma túy và bị bắt nếu số lượng chất ma túy đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy thì người đó là đồng phạm với người mua về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điều 194 BLHS.


Như vậy, về mặt khách quan, Dương anh T có dấu hiệu của tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Nguyễn văn Đ có dấu hiệu là đồng phạm với T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 194 BLHS.


Tuy nhiên, để có cơ sở kết luận T và Đ có phạm tội hay không cần căn cứ vào trọng lượng ma túy mà Đ mua hộ T. Lượng ma túy để xác định có phạm tội hay không phạm tội cần căn cứ vào điểm 3.6 phần II của thông tư liên tịch số 17 như đã phân tích ở trên và cứ vào nhân thân của T và Đ. Việc xác định trọng lượng ma túy do cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng kết quả giám định theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật.


Nếu kết quả giám định xác định trọng lượng ma túy thu giữ được là từ 0,1g trở lên thì đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự nêu trên.


Trên đây là nội dung trao đổi, trả lời độc giả của trang web của Ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Rất mong độc giả tiếp tục quan tâm đến trang web của Ngành. Chúc độc giả và gia đình mạnh khỏe./




Người trả lời: Vũ Viết Tuấn - Kiểm sát viên phòng 7 Viện KSND tỉnh Bắc Ninh